vanban.org

Bản án 04/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao ba người con chung tên Huỳnh Nhật H, sinh năm 2009; Huỳnh Nhật T, sinh năm 2012 và Huỳnh Nguyễn Như N, sinh năm 2013 hiện nay đang sống cùng chị B cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng.

Tài sản chung; nợ thu; nợ trả: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Nguyễn Thị B phải nộp 300.000 đồng. Chị B đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0021517 ngày 21/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N được chuyển thu.…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Giao ba người con chung tên Huỳnh Nhật H, sinh năm 2009; Huỳnh Nhật T, sinh năm 2012 và Huỳnh Nguyễn Như N, sinh năm 2013 hiện nay đang sống cùng chị B cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC HIỂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HNGĐ - ST
Ngày 11 - 01- 2023
V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hoàng Tỷ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Thanh Liêm.

Ông Nguyễn Xuân Thành.

- Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Văn Lợi là Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

Ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 240/2022/TLST- HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1988; cư trú tại: Ấp Đ, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau (Có mặt).

- Bị đơn: Anh Huỳnh Trường G, sinh năm 1985; cư trú tại: Ấp Đ, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 21 tháng 11 năm 2022 và biên bản hòa giải ngày 14 tháng 12 năm 2022 chị Nguyễn Thị B trình bày: Chị và anh Huỳnh Trường G kết hôn với nhau năm 2009, trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc tuy nhiên thời gian gần đây vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do bất đồng quan điểm, trong cuộc sống vợ chồng không có tiếng nói chung, không quan tâm thương yêu chăm sóc lẫn nhau, mâu thuẫn kéo dài mặt dù đã hàn gắn tuy nhiên không mang lại kết quả. Hiện nay chị và anh G đã sống ly thân với nhau, nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Trường G.Về con chung: Chị và anh Huỳnh Trường G có hai một người con chung tên Huỳnh Nhật H, sinh năm 2009, Huỳnh Nhật T, sinh năm 2012 và Huỳnh Nguyễn Như N sinh năm 2013. Sau khi ly hôn tuỳ theo nguyện vọng của con theo ai người đó nuôi, nếu theo chị thì chị nuôi, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.Về tài sản chung, nợ thu, nợ trả: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản hòa giải ngày 14 tháng 12 năm 2022 anh Huỳnh Trường G trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị B kết hôn với nhau năm 2009, có đăng ký kết hôn theo quy định. Tuy nhiên hiện nay anh không đồng ý ly hôn với chị B. Về nguyên nhân mâu thuẫn là do anh phát hiện chị B có nhắn tin qua lại với người khác, từ đó vợ chồng có cự cãi. Hiện nay anh còn thương vợ, thương con nên anh không đồng ý ly hôn, cần thời gian hàn gắn tình cảm vợ chồng lại với nhau. Về con chung: Chị và anh Huỳnh Trường G có ba người con chung tên Huỳnh Nhật H, sinh năm 2009, Huỳnh Nhật T, sinh năm 2012 và Huỳnh Nguyễn Như N sinh năm 2013. Sau khi ly hôn tuỳ theo nguyện vọng của con theo ai người đó nuôi, nếu theo anh thì anh nuôi, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.Về tài sản chung, nợ thu, nợ trả: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa ngày hôm nay chị Nguyễn Thị B có mặt cương quyết yêu cầu ly hôn với anh G, anh Huỳnh Trường G không đồng ý ly hôn do anh còn thương vợ, thương con, cần thời gian hàn gắn tình cảm vợ chồng. Đối với các người con trường hợp ly hôn thì các con có nguyện vọng được sống với mẹ, anh đồng ý giao con lại cho chị B nuôi dưỡng theo nguyện vọng của các con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị B và bị đơn anh Huỳnh Trường G Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển thụ lý giải quyết là đúng theo thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quan hệ hôn nhân giữa chị B và anh G được xác lập trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Do đó, hôn nhân giữa chị B và anh G được xác định là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, vợ chồng không có sự quan tâm, thương yêu chăm sóc, tin tưởng lẫn nhau. Mâu thuẫn vợ chồng mặt dù đã được hàn gắn tuy nhiên vẫn không mang lại kết quả. Tại phiên tòa ngày hôm nay chị B có mặt vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn, và giải quyết việc nuôi con. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án anh G cho rằng trong cuộc sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn tuy nhiên không lớn, anh còn thương vợ, thương con cần thời gian hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do anh phát hiện vợ có nhắn tin qua lại với người khác nên anh không đồng ý. Xét thấy trong cuộc sống vợ chồng giữa chị B và anh G thực tế phát sinh nhiều mâu thuẫn. Mặc khác trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến ngày xét xử chị B và anh G vẫn không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng lại với nhau, chị B cương quyết yêu cầu được ly hôn. Mặt khác hiện nay anh G và chị B đã sống ly thân với nhau. Xét thấy hôn nhân của chị B và anh G đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy nếu kéo dài tình trạng hôn nhân của anh chị thì cũng không thể đảm bảo mang lại hạnh phúc cho đôi bên. Do đó chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị B đối với anh Huỳnh Trường G.

Về con chung: Chị B và anh G có ba người con chung: Huỳnh Nhật H, sinh năm 2009; Huỳnh Nhật T, sinh năm 2012 và Huỳnh Nguyễn Như N, sinh năm 2013. Sau khi ly hôn anh G và chị B xác định tuỳ theo nguyện vọng của các con, theo ai thì người đó nuôi không yêu cầu cấp dưỡng. Xét thấy từ trước đến nay ba người con sống với anh G, chị B vẫn phát triển bình thường về mọi mặc. Ba người con đều trên bảy tuổi và có nguyện vọng sống với chị B, anh G cũng đồng ý, không có ý kiến gì khác, do đó cần tiếp tục giao con cho chị B nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Anh G không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền năm nom, chăm sóc con theo luật định.

Về tài sản chung; nợ thu; nợ trả: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì chị B phải nộp 300.000 đồng. Chị B đã dự nộp 300.000 đồng được chuyển thu.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị B đối với anh Huỳnh Trường G.

Giao ba người con chung tên Huỳnh Nhật H, sinh năm 2009; Huỳnh Nhật T, sinh năm 2012 và Huỳnh Nguyễn Như N, sinh năm 2013 hiện nay đang sống cùng chị B cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng. Anh G không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh G không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của chị B.

Tài sản chung; nợ thu; nợ trả: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Nguyễn Thị B phải nộp 300.000 đồng. Chị B đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0021517 ngày 21/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N được chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ