vanban.org

Bản án 04/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Huỳnh Thị Kim Ng được ly hôn với ông Nguyễn Xuân Kh. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Huỳnh Nhã U – sinh ngày: 01/7/2019 cho bà Huỳnh Thị Kim Ng trực tiếp nuôi dưỡng khi con chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao độ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Ng - Kh"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG YANG
TỈNH GIA LAI
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 03/3/2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Nam Trung

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Định và ông Nguyễn Ngọc Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Hải

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đình Lộc – Kiểm sát viên

Ngày 03 tháng 3 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Kim Ng – sinh năm: 1999

Địa chỉ: Thôn Nhơn Th, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai. (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân Kh – sinh năm: 1998

Địa chỉ: Thôn Nhơn Th, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bà Huỳnh Thị Kim Ng và ông Nguyễn Xuân Kh tự nguyện chung sống tiến tới hôn nhân với nhau. Ông bà có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Chư Prông, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai vào ngày 19/4/2019. Sau khi kết hôn vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do khác biệt tính cách, quan điểm sống. Cả hai hiện đang sống ly thân, không còn tình cảm. Nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc và không thể kéo dài thêm nên bà Ng đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Xuân Kh.

Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Nhã U – sinh ngày: 01/7/2019. Bà đề nghị sau khi ly hôn được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông Kh cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Bà Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Ng xác định vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn ông Nguyễn Xuân Kh đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng không có văn bản trình bày ý kiến. Ông Kh đã được triệu tập đến Tòa án hòa giải đoàn tụ với bà Ng vào ngày 21/7/2022, ngày 10/8/2022 cũng như tại phiên tòa ngày 10/02/2023 và phiên tòa hôm nay, ông Kh đều vắng mặt không có lý do.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến nay, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các thông báo, văn bản Tòa án nhưng không có mặt. Tại phiên tòa, Tòa án đã xét xử vắng mặt bị đơn đúng theo quy định. Về quan hệ hôn nhân đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Huỳnh Thị Kim Ng được ly hôn với ông Nguyễn Xuân Kh. Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cho bà Ng trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: không ai có yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập. Về án phí: đề nghị nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bị đơn ông Nguyễn Xuân Kh đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Mang Yang xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân và thẩm quyền giải quyết: Bà Huỳnh Thị Kim Ng và ông Nguyễn Xuân Kh kết hôn với nhau vào năm 2019 có đăng ký theo quy định pháp luật. Điều này phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn số 25 do UBND thị trấn Chư Prông, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai cấp ngày 19/4/2019 mà nguyên đơn đã giao nộp. Vì vậy quan hệ hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp. Ông Nguyễn Xuân Kh có nơi cư trú tại thôn Nhơn Th, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

Về mâu thuẫn gia đình: Theo trình bày của đương sự và qua quá trình xác minh tại địa phương, nhận thấy trong quá trình chung sống, ông bà đã xảy ra mâu thuẫn. Hiện vợ chồng đang sống ly thân, không còn sự quan tấm, chăm sóc và chia sẻ hơn 01 năm nay. Tại phiên tòa bà Ng vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, còn ông Kh không có ý kiến trình bày, không có thiện chí muốn hòa giải và đoàn tụ xây dựng gia đình mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập. Xét thấy cả hai đã không còn sự tôn trọng, gắn bó, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Huỳnh Thị Kim Ng được ly hôn với ông Nguyễn Xuân Kh theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên là Nguyễn Huỳnh Nhã U – sinh ngày: 01/7/2019. Nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi ly hôn. Nhận thấy hiện con còn nhỏ, do bà Ng nuôi dưỡng, ông Nguyễn Xuân Kh thường xuyên đi làm xa nhà và ông cũng không có ý kiến gì về việc giành quyền nuôi con. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Ng giao con Nguyễn Huỳnh Nhã U cho bà Ng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc sau khi ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Ng không yêu cầu ông Kh cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung: Bà Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Bà Ng xác định vợ chồng bà không có nợ chung nên không xem xét.

Về án phí: Bà Ng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Huỳnh Thị Kim Ng được ly hôn với ông Nguyễn Xuân Kh.

2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Huỳnh Nhã U – sinh ngày: 01/7/2019 cho bà Huỳnh Thị Kim Ng trực tiếp nuôi dưỡng khi con chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Quyền và nghĩa vụ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: Bà Huỳnh Thị Kim Ng phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0010632 ngày 10/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Bà Ng đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (03/3/2023), đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a ,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ