vanban.org

Bản án 04/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lâm Quốc D.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lâm Quốc D được ly hôn với chị Hồ Thị X. Về con chung: Anh Lâm Quốc D được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Lâm Hoàng Đ (giới tính nam), sinh ngày 02/4/2007 và Lâm Thị Thùy V (giới tính nữ), sinh ngày 02/5/2011. Anh Lâm Quốc D không yêu cầu chị Hồ Thị X cấp dưỡng nuôi con chung… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lâm Quốc D.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 16 – 01 – 2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tiến

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Út

Bà Trịnh Thị Trúc Linh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Kim Chúc – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 146/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2022/QĐXXST–HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 04 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Lâm Quốc D, sinh năm: 1983 (có mặt).

Địa chỉ: Khu vực B, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

2. Bị đơn: Chị Hồ Thị X, sinh năm: 1984 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khu vực B, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn Lâm Quốc D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2007 anh Lâm Quốc D và chị Hồ Thị X tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang vào ngày 09/3/2007.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hạnh phúc nên anh D và chị X đã ly thân từ ngày 15/5/2021 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh D yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Hồ Thị X.

Về con chung: Anh D và chị X có 02 con chung Lâm Hoàng Đ (giới tính nam), sinh ngày 02/4/2007 và Lâm Thị Thùy V (giới tính nữ), sinh ngày 02/5/2011, hiện nay đang sống chung với anh D do đó anh D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị X cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với bị đơn Hồ Thị X nhưng bị đơn vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến như sau: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lâm Quốc D. Anh Lâm Quốc D được ly hôn với chị Hồ Thị X. Về con chung anh Lâm Quốc D được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Lâm Hoàng Đ (giới tính nam), sinh ngày 02/4/2007 và Lâm Thị Thùy V (giới tính nữ), sinh ngày 02/5/2011. Anh D chưa yêu cầu chị X cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét. Chị Hồ Thị X có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung không có không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn”, căn cứ các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Hồ Thị X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố tình vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đối với bị đơn Hồ Thị X và dành quyền kháng cáo cho bị đơn theo luật định.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lâm Quốc D và chị Hồ Thị X tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang vào ngày 09/3/2007 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Xét nguyên nhân yêu cầu ly hôn của anh Lâm Quốc D, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình chung sống thời gian đầu cuộc sống vợ chồng anh chị hạnh phúc và có con chung nhưng dần về sau vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hạnh phúc nên anh D và chị X đã ly thân từ ngày 15/5/2021 đến nay. Tại phiên tòa, anh D cương quyết yêu cầu được ly hôn với chị X. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa anh chị là trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Lâm Quốc D.

Về con chung: Anh D và chị X có 02 con chung Lâm Hoàng Đ (giới tính nam), sinh ngày 02/4/2007 và Lâm Thị Thùy V (giới tính nữ), sinh ngày 02/5/2011. Anh D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, từ khi anh D và chị X ly thân cho đến nay anh D là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Quá trình giải quyết vụ án chị X không có ý kiến phản đối về việc anh D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Mặc khác, cháu Lâm Hoàng Đ và Lâm Thị Thùy V có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với cha. Do đó, để đảm bảo sự phát triển và không làm xáo trộn cuộc sống của các con nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Lâm Hoàng Đ và Lâm Thị Thùy V cho anh D tiếp tục nuôi dưỡng.

Anh Lâm Quốc D không yêu cầu chị Hồ Thị X cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

Chị Hồ Thị X có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Lâm Quốc D không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh Lâm Quốc D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lâm Quốc D.

2. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lâm Quốc D được ly hôn với chị Hồ Thị X.

3. Về con chung: Anh Lâm Quốc D được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Lâm Hoàng Đ (giới tính nam), sinh ngày 02/4/2007 và Lâm Thị Thùy V (giới tính nữ), sinh ngày 02/5/2011. Anh Lâm Quốc D không yêu cầu chị Hồ Thị X cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

Chị Hồ Thị X có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

4. Về tài sản chung: Anh Lâm Quốc D không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

5. Về nợ chung: Anh Lâm Quốc D không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

6. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn anh Lâm Quốc D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Anh D được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo lai thu số 0004433, lập ngày 18 tháng 10 năm 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

7. Nguyên đơn anh Lâm Quốc D có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn chị Hồ Thị X có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân xã, phường nơi bị đơn cư trú.

Cỡ chữ