- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm về việc ly hôn giữa bà Cao Thị Yến M và ông Mang N"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHÁNH VĨNH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST Ngày 25 – 5 – 2023 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHÁNH VĨNH – TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Phƣơng Nga
Bà Đỗ Thị Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hồng Diên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Học - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa xét xử công khai vụ án Hôn nhân - gia đình sơ thẩm thụ lý số: 83/2022/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXX-ST ngày 10 tháng 4 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2023/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Cao Thị Yến M, sinh năm 1992, có mặt.
Địa chỉ: Thôn B, xã K, huyện K, tỉnh Khánh Hòa.
2. Bị đơn: Ông Mang N, sinh năm 1987, vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn B, xã K, huyện K, tỉnh Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/10/2022, bản tự khai ngày 07/11/2022 nguyên đơn bà Cao Thị Yến M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Mang N kết hôn năm 2011, đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã Khánh Bình. Sau khi kết hôn ông bà chung sống tại thôn B, xã K, huyện K và có 02 con chung Mang Thị Minh H, sinh ngày 22/4/2011 và Mang Hữu T, sinh ngày 21/02/2013. Quá trình sống chung giữa hai vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm về mọi mặt, thường xuyên xảy ra tranh cãi do ông N thường xuyên nhậu say thiếu trách nhiệm với gia đình. Bà đã nhiều lần khuyên can để ông N thay đổi, chăm lo cho gia đình nhưng không thành. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Mang N.
Về con chung: Sau khi ly hôn bà M yêu cầu được nuôi dưỡng các con chung đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà M khai không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn ông Mang N: Tòa án nhân dân huyện Khánh Vĩnh đã tiến hành thực hiện các thủ tục triệu tập, xác minh và niêm yết hợp lệ để lấy lời khai theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông N không đến Tòa án để làm việc và cũng không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của bà M nên Tòa án đưa vụ án ra giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án là đúng theo quy định. Đối với bị đơn ông Mang N đã được Tòa án triệu tập, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông cố tình không có mặt tại phiên tòa nhằm bảo vệ quyền lợi cho mình do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông N là đúng theo quy định của pháp luật.
Về thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án đến trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã thực hiện việc thu thập tài liệu chứng cứ theo quy định.
Về nội dung vụ án: Về hôn nhân, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn; Về con chung: Đề nghị HĐXX giao các con chung cho nguyên đơn nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Về tài sản chung, nợ chung: Bà M khai không có nên không xét. Về án phí đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn ông Mang N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết tại địa phương và nơi cư trú, do đó Tòa án nhân dân huyện Khánh Vĩnh tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng với quy định tại b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Cao Thị Yến M và ông Mang N kết hôn năm 2011, đăng ký kết hôn tại UBND xã Khánh Bình và đã được UBND xã cấp giấy chứng nhận kết hôn số 21/2011, quyển số 01/2010, ngày 13/7/2011. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông N là hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, giữa M và ông N thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm về mọi mặt dẫn đến tranh cãi. Sau khi xảy ra mâu thuẫn hai ông bà không còn sống chung từ đầu năm 2022 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy, xuất phát từ bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến mâu thuẫn làm cho tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, việc quan tâm, chăm sóc lẫn nhau không còn, do đó mâu thuẫn giữa bà M và ông N đã đến mức trầm trọng nên cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài. Vì vậy có duy trì quan hệ hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai và mục đích của hôn nhân cũng không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Cao Thị Yến M đối với ông Mang N.
Về con chung: Bà Cao Thị Yến M và ông Mang N có 02 con chung Mang Thị Minh H, sinh ngày 22/4/2011 và Mang Hữu T, sinh ngày 21/02/2013. Trong quá trình giải quyết vụ án bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung đến tuổi trưởng thành, bà không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con. Kể từ thời điểm bà M và ông N không còn sống chung, các con chung đang do bà M trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu H, cháu T có nguyện vọng sau khi bố mẹ ly hôn xin được ở với mẹ. Xét thấy, sau khi ly hôn việc giao con chưa thành niên cho người nào nuôi dưỡng, giáo dục là nhằm mục đích giúp con chưa thành niên phát triển tốt cả về tinh thần lẫn thể chất. Nguyên đơn có đủ điều kiện nuôi con và thực tế đang trực tiếp nuôi con chung. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chung, theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao các cháu Mang Thị Minh H, sinh ngày 22/4/2011 và Mang Hữu T, sinh ngày 21/02/2013 cho bà Cao Thị Yến M trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Trong quá trình nuôi con nếu gặp khó khăn bà M có quyền làm đơn yêu cầu cấp dưỡng nuôi con hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con để đảm bảo quyền lợi cho con chung.
Về tài sản chung: Bà Cao Thị Yến M khai không có nên HĐXX không xét.
Về nợ chung: Bà Cao Thị Yến M khai không có nên HĐXX không xét.
Về án phí: Bà Cao Thị Yến M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Cao Thị Yến M được ly hôn với ông Mang N.
2. Về con chung: Giao các con chung Mang Thị Minh H, sinh ngày 22/4/2011 và Mang Hữu T, sinh ngày 21/02/2013 cho bà Cao Thị Yến M trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Bà Cao Thị Yến M không yêu cầu ông Mang N cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn vì quyền lợi của con, các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con; người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
3. Về tài sản chung: Bà Cao Thị Yến M khai không có nên HĐXX không xét.
4. Về nợ chung: Bà Cao Thị Yến M khai không có nên HĐXX không xét.
5. Về án phí: Bà Cao Thị Yến M phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tại biên lai số AA/2021/0005907 ngày 26 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Khánh Vĩnh. Bà Cao Thị Yến M đã nộp đủ án phí.
Quyền kháng cáo: Bà Cao Thị Yến M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ông Mang N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa - VKSND huyện Khánh Vĩnh; - Chi cục THADS huyện Khánh Vĩnh; - UBND xã Khánh Bình (Giấy CNKH số 21/2011, quyển số 01/2010, ngày 13/7/2011); - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Thu Hiền |