vanban.org

Bản án 04/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T ly hôn Anh Nguyễn Đức T.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đức A, sinh ngày 06/3/2013 cho Chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Đức T không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T ly hôn Anh Nguyễn Đức T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIO LINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG TRỊ
Bản án số:04/2023/HNGĐ-ST
Ngày 17/4/2023
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nhan Ngọc Đăng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Châu và ông Nguyễn Hữu Luật.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gio Linh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thúy Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 39/2023/TLST-HNGĐ ngày 08/3/2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/4/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1991;

Địa chỉ: thôn X, xã T, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1990;

Địa chỉ: thôn P, xã G, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 01 tháng 3 năm 2023, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn Chị Nguyễn Thị T trình bày:

Ngày 02/7/2012, Chị Nguyễn Thị T và Anh Nguyễn Đức T đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tình tình không hợp dẫn đến bất đồng quan điểm, dẫn cải vã nhau, không tìm được tiếng nói chung. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng hôn nhân không thể kéo dài, nên chị T có nguyện vọng được ly hôn với Anh Nguyễn Đức T. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Đức A, sinh ngày 06/3/2013. Nếu ly hôn, chị T có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Đức A. Không yêu cầu Anh Nguyễn Đức T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Theo Bản trình bày ý kiến đề ngày 20 tháng 3 năm 2023, Anh Nguyễn Đức T trình bày: Việc kết hôn như chị T trình bày là đúng. Trong quá trình chung sống do tình tình không hợp dẫn đến bất đồng quan điểm, dẫn cải vã nhau, không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng ly thân từ năm 2014 đến nay. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn nên Anh Nguyễn Đức T đồng ý ly hôn Chị Nguyễn Thị T. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Đức A, sinh ngày 06/3/2013. Nếu ly hôn, Anh T đồng ý giao cháu Nguyễn Đức A cho Chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh T không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình gải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và bị đơn có đơn xin vắng mặt tại các phiên làm việc, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và có đơn đề nghị Tòa án không hòa giải và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 BLTTDS, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị xử cho Chị Nguyễn Thị T được ly hôn Anh Nguyễn Đức T. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đức A, sinh ngày 06/3/2013 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn và người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn Anh Nguyễn Đức T có địa chỉ cư trú tại thôn P, xã G, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Nên Tòa án nhân dân huyện Gio Linh thụ lý giải quyết là đúng quy định theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 BLTTDS Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và Anh Nguyễn Đức T tự nguyện kết hôn năm 2012, tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của chị T và Anh T tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, xác nhận: Vợ chồng chị T và Anh T xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng chị T và Anh T ly thân từ năm 2014 đến nay. Chị Nguyễn Thị T hiện nay đã bỏ đi khỏi địa phương. Như vậy, đủ cơ sở để xác định quan hệ hôn nhân giữa chị T và Anh T không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

Về con chung: Qúa trình chung sống vợ chồng Chị Nguyễn Thị T và Anh Nguyễn Đức T có 01 con chung là cháu Nguyễn Đức A, sinh ngày 06/3/2013. Chị Nguyễn Thị T có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Đức A. Không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Quá trình giải quyết vụ án, Anh Nguyễn Đức T có ý kiến trình bày đồng ý yêu cầu trên. Ngoài ra, Tòa án đã lấy ý kiến của cháu Nguyễn Đức A thì cháu Anh có nguyện vọng ở với mẹ.

Vì vậy, căn cứ Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của đương sự và đề nghị của Viện kiểm sát giao cháu Nguyễn Đức A, sinh ngày 06/3/2013 cho Chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Đức T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 228, Điều 238; khoản 2 Điều 266, Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về “ Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T ly hôn Anh Nguyễn Đức T.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đức A, sinh ngày 06/3/2013 cho Chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Đức T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số CC/2022/0000140 ngày 08/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh. Chị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kề từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ