vanban.org

Bản án 04/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Phú Q.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Phú Q được ly hôn với chị Trần Thị A. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thiên Ân, sinh ngày 22/3/2018 cho chị Trần Thị A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục khi cháu Ân chưa thành niên, hoặc đã thành niên mà mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "QUYỀN - ANH"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Phú Q.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST
Ngày 23/02/2023
“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con
chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH G

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Đặng Anh Việt.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Cần và ông Lê Khả Hòa.

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Minh Chinh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 02 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 227/2022/TLST-HNGĐ ngày 07/11/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐST-HNGĐ ngày 01/02/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Phú Q, sinh năm 1996

Địa chỉ: Khu dân cư 22, thôn Đôn Lương, xã Đức Thạnh, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.

Vắng mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Chị Trần Thị A, sinh năm 1993

Địa chỉ: Tổ dân phố 3, thị trấn Chư Ty, huyện Đ, tỉnh G.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Phú Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Phú Q và chị Trần Thị A có thời gian tìm hiểu sau đó tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Chư Ty, huyện Đ, tỉnh G vào ngày 10/9/2017.

Trong thời gian chung sống, do bất đồng về quan điểm sống nên anh Q và chị Anh thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, vợ chồng không thể nói chuyện, chia sẻ được với nhau về mọi vấn đề, cuộc sống chung không hòa thuận, không có hạnh phúc. Vợ chồng anh chị đã cố gắng nhiều lần tự hòa giải mâu thuẫn nhưng không được. Anh Q và chị Anh đã sống ly thân khoảng 2 năm nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng không còn khả năng hàn gắn để tiếp tục chung sống, vợ chồng không còn tình cảm, không quan tâm tới nhau nên anh Q đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trần Thị A.

Anh Q và chị Anh có 01 tên: Nguyễn Thiên Ân, sinh ngày 22/3/2018. Cháu Nguyễn Thiên Ân hiện đang sống cùng với chị Anh.

Anh Q đề nghị Tòa án giao cháu Ân cho chị Anh trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Ân thành niên và tự lập được. Anh Q tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mức 1.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ khi Tòa án xét xử sơ thẩm đến khi cháu Ân thành niên và tự lập được.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Phú Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị đơn, chị Trần Thị A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị A và anh Nguyễn Phú Q có trải qua thời gian tìm hiểu sau đó tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Chư Ty, huyện Đ, tỉnh G vào ngày 10/9/2017.

Sau khi kết hôn, chị Anh và anh Q chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên xảy ra cãi vã, cuộc sống chung không hòa thuận, không có hạnh phúc. Vợ chồng đã nhiều lần tự hòa giải mâu thuẫn với nhau nhưng không được. Chị Anh và anh Q đã sống ly thân hơn hai năm nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng không còn khả năng hàn gắn để tiếp tục chung sống, tình cảm vợ chồng không còn, anh Q có đơn xin ly hôn, chị Anh nhất trí.

Về con chung: Chị Anh và anh Q có 01 con chung tên: Nguyễn Thiên Ân, sinh ngày 22/3/2018. Cháu Nguyễn Thiên Ân hiện đang sống cùng với chị Anh.

Chị Anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Thiên Ân, chị Anh yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con mức 1.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ khi Tòa án xét xử sơ thẩm đến khi cháu Ân thành niên và tự lập được.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Nguyễn Phú Q và chị Trần Thị A là hợp pháp. Quá trình chung sống với nhau được một thời gian thì anh Q và chị Anh phát sinh mâu thuẫn. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm, nên anh Q đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với chị Anh và chị Anh cũng nhất trí ly hôn với anh Q. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Q.

Về con chung: Chị Anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thiên Ân cho đến khi cháu Ân thành niên và tự lập được. Chị Anh yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con mức 1.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ khi Tòa án xét xử sơ thẩm đến khi cháu Ân thành niên và tự lập được. Anh Q cũng nhất trí giao cháu Ân cho chị Anh nuôi dưỡng và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mức 1.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ khi Tòa án xét xử sơ thẩm đến khi cháu Ân thành niên và tự lập được. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giao cháu Nguyễn Thiên Ân cho chị Anh trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Ân thành niên và có khả năng lao động tự lập được. Buộc anh Q cấp dưỡng nuôi cháu Ân mức 1.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ khi Tòa án xét xử sơ thẩm đến khi cháu Ân thành niên và tự lập được

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Anh Nguyễn Phú Q khởi kiện yêu cầu ly hôn và giải quyết nuôi con chung với chị Trần Thị A có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố 3, thị trấn Chư Ty, huyện Đ, tỉnh G. Vì vậy đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” thuộc thẩm Q giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Phú Q và chị Trần Thị A có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Phú Q và chị Trần Thị A trải qua thời gian tìm hiểu, tiến tới hôn nhân và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Chư Ty, huyện Đ, tỉnh G. Vì vậy, hôn nhân giữa anh Q và chị Anh là hợp pháp theo đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Quá trình chung sống với chị Anh, nhận thấy mâu thuẫn phát sinh trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên anh Q khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với chị Anh. Chị Anh cũng thừa nhận mâu thuẫn giữa vợ chồng đã thực sự trầm trọng, vợ chồng không còn yêu thương nhau và nhất trí ly hôn với anh Q. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở để khẳng định mâu thuẫn giữa anh Q và chị Anh đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Q.

Về con chung: Anh Nguyễn Phú Q và chị Trần Thị A đều thừa nhận có 01 con chung tên là: Nguyễn Thiên Ân, sinh ngày 22/3/2018.

Chị Anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thiên Ân. Hiện nay, cháu Ân đang còn nhỏ, cần có sự chăm sóc của người mẹ, anh Q cũng nhất trí giao cháu Ân cho chị Anh trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Anh có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, đảm bảo sự phát triển toàn diện của cháu Ân. Do đó, cần giao cháu Nguyễn Thiên Ân cho chị Anh nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Ân trưởng thành và tự lập được là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Anh yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con mức 1.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ khi Tòa án xét xử sơ thẩm cho đến khi cháu Ân thành niên và tự lập được và anh Q cũng nhất trí nên cần chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Anh và anh Q đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Trần Thị A là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, anh Q là người cấp dưỡng nuôi con nên phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Các Điều 9, 19, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110,116, 117, 118 của Luật hôn nhân và gia đình;

- khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Phú Q.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Phú Q được ly hôn với chị Trần Thị A.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thiên Ân, sinh ngày 22/3/2018 cho chị Trần Thị A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục khi cháu Ân chưa thành niên, hoặc đã thành niên mà mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Anh Nguyễn Phú Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mức 1.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ khi Tòa án xét xử sơ thẩm cho đến khi cháu Ân thành niên, hoặc đã thành niên mà mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Kể từ ngày Quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có Q chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng Q của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có Q, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng Q thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có Q yêu cầu Tòa án hạn chế Q thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng.

3. Về án phí:

Buộc anh Nguyễn Phú Q phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch về ly hôn và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch về cấp dưỡng nuôi con để sung quỹ nhà nước, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí anh Q đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006910, ngày 07/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh G. Anh Q còn phải tiếp tục nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có Q kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh G xét xử phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có Q thoả thuận thi hành án, Q yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ