- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Phạm Thanh T khởi kiện ly hôn và tranh chấp nuôi con với anh Hoàng Văn H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thanh T và anh Hoàng Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xử; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xử; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST Ngày 09-8-2023 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Hưng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đoàn Thị Tiến
Ông Trần Chấn Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang Bảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cát Hải;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải tham gia phiên tòa: Ông Vũ Huy Tài - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng, Tòa án nhân dân huyện Cát Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 04/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2023 về việc Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2023/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thanh T, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn M, xã N, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn M, xã N, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 15/02/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, chị Phạm Thanh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thanh T và anh Hoàng Văn H xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 10/4/2017 tại UBND xã N, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Trong quá trình chung sống, anh chị không có tiếng nói chung và thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H chơi bời, bài bạc, không quan tâm đến gia đình, làm cho kinh tế gia đình ngày càng sa sút. Chị T khuyên ngăn nhưng anh H vẫn không bỏ được bài bạc. Năm 2019 hai bên đã có đơn xin ly hôn gửi Tòa án, sau khi được Tòa án hòa giải, hai bên đã rút đơn về đoàn tụ, tuy nhiên sau đó cuộc sống vợ chồng vẫn không cải thiện được. Mâu thuẫn giữa hai bên ngày càng gia tăng, tuy đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không giải quyết được. Từ tháng 5/2021, chị và anh H đã sống ly thân không liên lạc và quan tâm gì tới nhau. Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã rất trầm trọng, tình cảm không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh H.
Về con chung: Chị T và anh H có 01 con chung là Hoàng Gia Hưng, sinh ngày 18/9/2017, hiện đang do chị T nuôi dưỡng. Trường hợp Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh H thì chị đề nghị được trực tiếp nuôi con. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã gửi thông báo Thụ lý, triệu tập bị đơn anh Hoàng Văn H đến Tòa án để giải quyết vụ án, tuy nhiên anh H đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng thủ tục chung của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng đến ngày mở phiên tòa anh H vẫn vắng mặt. Do đó, trong hồ sơ vụ án không có bản tự khai thể hiện ý kiến của anh H cũng như không có tài liệu, chứng cứ nào ghi nhận quan điểm của anh H đối với yêu cầu khởi kiện của chị T.
Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ ở địa phương và nơi sinh sống của các đương sự, qua các thông tin của chính quyền địa phương và tại nơi cư trú đã thể hiện toàn bộ nội dung mâu thuẫn vợ chồng, con chung và tài sản chung đúng như nội dung nguyên đơn đã trình bày.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải phát biểu ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; xác định đúng thẩm quyền, quan hệ tranh chấp; những người tham gia tố tụng đã được thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Chị Phạm Thanh T và anh Hoàng Văn H xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng vào ngày 10/4/2017 đến nay có 01 con chung. Quá trình chung sống hai bên phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân nhau từ tháng 5/2021. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; xử cho chị Phạm Thanh T được ly hôn anh Hoàng Văn H. Về con chung, xử: Giao con chung là Hoàng Gia Hưng, sinh ngày 18/9/2017 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con, chị T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về tài sản chung, chị T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Phạm Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào Ngân sách nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền của Tòa án: Chị Phạm Thanh T khởi kiện xin ly hôn anh Hoàng Văn H là tranh chấp về ly hôn. Anh H cư trú tại địa bàn huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng nên căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng.
Bị đơn, anh Hoàng Văn H đã được Tòa án triệu tập, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định nhưng quá trình giải quyết vụ án anh H không tham gia tố tụng và vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do, qua đó cho thấy anh H đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình trước pháp luật. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H theo thủ tục chung.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thanh T và anh Hoàng Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Giấy chứng nhận kết hôn số 11 do Ủy ban nhân dân xã N, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng cấp ngày 10 tháng 4 năm 2017 nên theo quy định tại khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cách sống; anh H chơi bời, bài bạc, không quan tâm đến gia đình làm cho kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn. Năm 2019 hai bên đã có đơn xin ly hôn, sau khi được Tòa án hòa giải hai bên rút đơn về đoàn tụ nhưng cuộc sống chung sau đó vẫn không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Từ tháng 5/2021 vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi, không quan tâm tới nhau. Tiến hành xác minh thu thập chứng cứ về thực trạng hôn nhân giữa chị Phạm Thanh T và anh Hoàng Văn H tại nới cư trú thể hiện: Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, cách sống; các đoàn thể địa phương đã hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả; hai vợ chồng đã sống ly thân, hiện chị T đang nuôi con chung. Xét mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xử cho chị Phạm Thanh T được ly hôn anh Hoàng Văn H là phù hợp.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Hoàng Gia Hưng, sinh ngày 18/9/2017. Kể từ sau khi vợ chồng ly thân, con chung do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị T đề nghị tiếp tục trực tiếp nuôi con chung và đã cung cấp các tài liệu chứng minh bản thân có công việc, thu nhập ổn định đủ điều kiện để nuôi con. Bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án không đưa ra quan điểm về việc nuôi con nên căn cứ các điều 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Phạm Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 207; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thanh T và anh Hoàng Văn H.
2. Về con chung: Giao con chung là Hoàng Gia Hưng, sinh ngày 18/9/2017 cho chị Phạm Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở và không được lạm dụng quyền này để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Về án phí: Chị Phạm Thanh T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm để sung Ngân sách nhà nước; chị T đã nộp đủ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cát Hải theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009883 ngày 15 tháng 3 năm 2023.
4. Về quyền kháng cáo: Chị T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND TP. Hải Phòng; - VKSND TP. Hải Phòng; - VKSND huyện Cát Hải; - Chi cục THADS huyện Cát Hải; - UBND xã N, huyện Cát Hải (Đăng ký kết hôn ngày 10/4/2017); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Hưng |