- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vàng Thị D - Vù Seo L"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận mối quan hệ giữa chị Vàng Thị D và anh Vù Seo L là quan hệ vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HNGĐ- ST Ngày 11 - 5 - 2023 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI.
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thọ
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Lục Văn Chằng
+ Bà Dương Thị Lan Anh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2023. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 20 /2023/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 03 năm 2023 về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXX- ST, ngày 26 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Vàng Thị D - sinh năm:1984. Địa chỉ: Thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2.Bị đơn: Anh Vù Seo L - sinh năm 1979. Địa chỉ: Thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ly hôn nhận ngày 07/03/2023 và biên bản lấy lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Vàng Thị D trình bày: Chị và anh Vù Seo L về chung sống với nhau từ năm 2001 trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của Pháp luật. Trong quá trình chung sống giữa chị và anh L sống hòa thuận hạnh phúc được 19 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn.Vì nghĩ đến các con nên chị D đã cố gắng nhẫn nhịn để nuôi dạy các con khôn lớn, nhưng càng chịu đựng thì cuộc sống của chị lại càng bị chèn ép, bản thân anh L thường hay ghen tuông vô cớ. Từ những lý do đó dẫn đến thời gian gần đây anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, anh L đã đánh, chửi chị nhiều lần, không chịu được chị đã bỏ nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 01 năm 2022. Hiện tại chị và anh L đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy cuộc sống chung giữa chị và anh L không có hạnh phúc, tình cảm không còn, để đảm bảo cuộc sống sau này của chị. Do vậy, chị làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận mối quan hệ giữa chị và anh Vù Seo L là vợ chồng.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/03/2023 bị đơn anh Vù Seo L trình bày: Anh hoàn toàn nhất trí với lời trình bày của chị D về thời gian sống chung và quá trình chung sống. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh và chị D là do chị D đã có tình cảm với người khác, khi biết được sự việc thì anh đã nhắc nhở nhiều lần, nhưng chị D không chịu thay đổi, từ đó dẫn đến anh, chị thường xuyên xảy ra đánh, cãi chửi nhau. Hiện nay anh và chị D đã không còn chung sống với nhau từ tháng 02 năm 2022 cho đến nay. Nay chị D làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận mối quan hệ giữa anh và chị D là vợ chồng, anh cũng nhất trí và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn.
Về con chung: Chị D và anh L đều thừa nhận trong thời gian sống chung giữa chị Dế và anh Lử có 02 con chung. Cháu lớn tên là Vù Hồng Ph - Sinh ngày 23 tháng 12 năm 2002; Cháu nhỏ tên là Vù Thị G - Sinh ngày 05 tháng 9 năm 2005. Hiện nay Vù Hồng Ph đã trưởng thành, nên cả hai anh chị đều không đề nghị giải quyết. Còn đối với cháu Vù Thị G hiện đang sống cùng với anh Lử, cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường.
Sau khi ly hôn chị Dế đề nghị Tòa án giải quyết cho anh Vù Seo L được nuôi cháu Vù Thị G, cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bị đơn anh Vù Seo L nhất trí với đề nghị của chị D về việc nuôi con chung khi ly hôn.
Về tài sản chung: Chị D và anh L tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử xử:
+ Về hôn nhân: Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình: Tuyên bố không công nhận mối quan hệ giữa chị Vàng Thị D và anh Vù Seo L là quan hệ vợ chồng.
+ Về con chung: Căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình: Giao cho anh Vù Seo L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Vù Thị G - Sinh ngày 05 tháng 9 năm 2005, cho đến khi cháu Giang đủ 18 tuổi. Chị Vàng Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có ý kiến vẫn giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị về quan hệ hôn nhân và về nuôi con khi ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Vàng Thị D khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai giải quyết không công nhận mối quan hệ giữa chị và anh Vù Seo L là vợ chồng, giải quyết về tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn. Anh L có hộ khẩu thường trú tại thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.
Tại phiên tòa hôm nay chị Vàng Thị D và anh Vù Seo L đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vàng Thị D và anh Vù Seo L về chung sống với nhau từ năm 2001, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán, được gia đình hai bên đồng ý, nhưng không có đăng ký kết hôn, vì khi đó chị D chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống giữa chị D và anh L đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, cuộc sống chung không thể kéo dài được. Ngày 07/03/2023 chị D nộp đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết tuyên bố mối quan hệ hôn nhân giữa chị và anh Vù Seo L không phải là vợ chồng. Xét thấy, việc chị D và anh L chung sống với nhau như vợ chồng là hoàn toàn tự nguyện, có thời gian chung sống với nhau đến nay đã được hơn 20 năm, nhưng không có đăng ký kết hôn là vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đình. Nên Hội đồng xét xử xem xét giải quyết, áp dụng khoản 1 Điều 14; Điều 53 luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 tuyên bố quan hệ giữa chị Vàng Thị D và anh Vù Seo L không phải là vợ chồng. Mối quan hệ hôn nhân giữa chị Vàng Thị D và anh Vù Seo L được chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
Về nuôi con khi ly hôn: Cả hai anh chị đều thừa nhận trong thời gian sống chung đến nay có 02 con chung. Cháu lớn tên là Vù Hồng Ph - Sinh ngày 23 tháng 12 năm 2002; Cháu nhỏ tên là Vù Thị G - Sinh ngày 05 tháng 9 năm 2005. Hiện nay Vù Hồng Ph đã trưởng thành , nên cả hai anh chị đều không đề nghị giải quyết. Còn đối với cháu Vù Thị G hiện đang sống cùng với anh Lử, cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường.
Chị D và anh L đều có nguyện vọng đề ghị giải quyết cho anh L được nuôi cháu G, cho đến khi cháu G đủ 18 tuổi, chị D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với cháu Vù Hồng Ph đã trưởng thành trên 18 tuổi, cả hai anh chị đều không đề nghị Tòa án giả quyết. Còn đối với cháu Vù Thị G có nguyện vọng muốn được sống cùng với anh L. Chị D và và anh L đều làm nghề tự do, có mức thu nhập ổn định, cả hai anh chị đều có điều kiện để nuôi dạy con trưởng thành và đảm bảo cho sự phát triển của cháu G. Tại Biên bản hòa giải về quan hệ nuôi con khi ly hôn ngày 09/4/2023. Chị D và anh L đã thỏa thuận để anh L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Vù Thị G - sinh ngày 05/9/2005, cho đến khi cháu G đủ 18 tuổi. Chị D không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tại phiên tòa hôm nay, chị D và anh L đều vắng mặt, nhưng đã có ý kiến đề nghị giải quyết vắng mặt. Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận đề nghị của chị D và tôn trọng sự thỏa thuận giữa chị D và anh L theo Biên bản hòa giải về nuôi con khi ly hôn. Xét thấy, việc thoả thuận của chị D và anh L là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với nguyện vọng của cháu G và đúng theo qui định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Nên cần giao cháu G cho anh L chăm sóc và nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: Chị Vàng Thị D và anh Vù Seo L không đề nghị Toà án giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Vàng Thị D phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.
Về quyền kháng cáo: Chị Vàng Thị D và anh Vù Seo L được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, Điều 53; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Khoản 4 Điều 147; Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận mối quan hệ giữa chị Vàng Thị D và anh Vù Seo L là quan hệ vợ chồng. Mối quan hệ hôn nhân giữa chị Vàng Thị D và anh Vù Seo L được chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về nuôi con khi ly hôn: Giao cho anh Vù Seo L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Vù Thị G, sinh ngày 05 tháng 9 năm 2005, cho đến khi cháu G đủ 18 tuổi. Chị D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con; mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Vàng Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghin đồng )
̀ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án phi
́ dân sự sơ thẩm đa nô ̣̃ p là 300.000 đồng theo biên lai số 0004069 ngày 09 tháng 03 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Hà. Chị D đã nộp đủ tiền án phí.
Án xử công khai sơ thẩm, chị D và anh L vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Lào Cai ; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện Bắc Hà; - CCTHADS huyện Bắc Hà; - Lưu HS;THS;VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lục Văn Chằng Dƣơng Thị Lan Anh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thọ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thọ |