- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Thị L"
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP Hướng dẫn một số quy định tại…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST Ngày 05 tháng 6 năm 2023. “V/v: Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CÔNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thế Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Ngọc Hóa.
Bà Hoàng Thị Thào
Thư ký phiên tòa: Bà Bào Kim Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Nông Thiêm Mẫn - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 69/2022/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 27/4/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2023/QĐST-HNGĐ ngày 18/5/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Dương Thị L, sinh năm 1988. Trú tại: Thôn B, xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. (Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Hoàng Văn A, sinh năm 1989. Trú tại: Thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. (Đã triệu tập hợp lệ mà vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị với anh Hoàng Văn Á xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bắc Kạn ngày 22/10/2012. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng hòa thuận hạnh phúc. Đến khoảng tháng 11/2012 chị L sinh con gái đầu lòng và vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Hoàng Văn Á sống không có trách nhiệm và bắt đầu chơi cờ bạc, bản thân chị đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh Á vẫn không thay đổi, do vậy hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Từ năm 2013 anh Hoàng Văn bỏ nhà đi đến nay không về, hai vợ chồng đã sống ly thân, sau này mới biết anh Hoàng Văn Á bị công an huyện B có quyết định truy nã. Nay tôi xin được ly hôn với anh Hoàng Văn Á.
Về con chung: Chị và anh Hoàng Văn Á có một con chung tên là Hoàng Thị Diệu L, sinh ngày 28/11/2012, con chung khỏe mạnh, phát triển bình thường, hiện nay đang sống cùng chị Dương Thị L tại thôn B, xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Khi ly hôn, chị Dương Thị L có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu anh Hoàng Văn Á cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Dương Thị L xác nhận vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Hoàng Văn Á: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Ba Bể có Thông báo số: 01/2023 TB-TA ngày 01/02/2023 thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bị đơn và Tòa án đã tiến hành xác minh tại Công an huyện B về việc truy nã anh Hoàng Văn Á nhưng chưa có kết quả và Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng, Tòa án không lấy được lời khai của bị đơn, không Hòa giải được.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn chị Dương Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu được Ly hôn với anh Hoàng Văn Á và yêu cầu được nuôi con chung.
- Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn phát biểu quan điểm về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình tố tụng, xây dựng hồ sơ và tại phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã đảm bảo đúng quy định. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn trong trường hợp này đối với bị đơn thuộc trường hợp cố tình dấu địa chỉ và đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về quan điểm giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Dương Thị L, cho chị Dương Thị L được ly hôn với anh Hoàng Văn Á. Về con chung: Đề nghị giao con chung Hoàng Thị Diệu L, sinh ngày 28/11/2012 cho chị Dương Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Dương Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về trình tự thủ tục tố tụng: Đây là vụ án Ly hôn, nuôi con chung khi Ly hôn, nguyên đơn chị Dương Thị L và bị đơn anh Hoàng Văn Á có nơi cư trú tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể. Quá trình giải quyết vụ án do anh Hoàng Văn Á đã không hợp tác với Tòa án, chị Dương Thị L có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án là phù hợp theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Dương Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa, do vậy căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật
Bị đơn anh Hoàng Văn Á không hợp tác với Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, Thông báo mở lại phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn trong trường hợp này đối với bị đơn thuộc trường hợp cố tình dấu địa chỉ, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị L và anh Hoàng Văn Á kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bắc Kạn nên xác định hôn nhân của chị Dương Thị L và anh Hoàng Văn Á là hợp pháp. Nay chị Dương Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn Á, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị là phù hợp với Luật Hôn nhân và gia đình, nên được chấp nhận.
Về con chung: Chị Dương Thị L và anh Hoàng Văn Á có 01 con chung tên là Hoàng Thị Diệu L, sinh ngày 28/11/2012. Con chung khỏe mạnh, phát triển bình thường và hiện nay cháu L đang ở cùng với chị L. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị L có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Hội đồng xét xử xét thấy anh Hoàng Văn Á không hợp tác với Tòa án và cũng không có ý kiến gì về vấn đề nuôi con chung, do vậy để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung, thấy rằng yêu cầu của chị L là phù hợp với nguyện vọng của cháu Hoàng Thị Diệu L, đồng thời phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Chị Dương Thị L không yêu cầu anh Hoàng Văn Á cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Dương Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về chi phí đăng tin tìm kiếm trong vụ án chị Dương Thị L có nộp cho Tòa án và Tòa án đã thanh toán xong các chi phí (có biên bản giao nhận với chị Dương Thị L và biên lai thu tiền của Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền thông (VOV AMS) và của Báo Công lý nơi đăng tin tìm kiếm), số tiền trên chị Dương Thị L tự chịu.
Về án phí: Chị Dương Thị L phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 207; khoản 2 Điều 208; Điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228/Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
* Tuyên xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn của chị Dương Thị L.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị L được ly hôn với anh Hoàng Văn Á.
- Về con chung: Giao con chung là Hoàng Thị Diệu L, sinh ngày 28/11/2012 cho chị Dương Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị Dương Thị L không yêu cầu anh Hoàng Văn Á cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Hoàng Văn Á có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Dương Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
2. Về chi phí đăng tin tìm kiếm trong vụ án chị Dương Thị L tự chịu, Tòa án đã thanh toán xong với chị Dương Thị L.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147/Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Chị Dương Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị Dương Thị L đã nộp theo biên lai số: 0001106 ngày 29/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Xác nhận chị Dương Thị L đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - VKSND huyện Ba Bể; - Chi cục THADS huyện Ba Bể; - Các đương sự; - UBND xã B; - Lưu hồ sơ. | T/M héi ®ång xÐt xö s¬ thÈM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thế Hùng |