- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "giải quyết ly hôn, nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lường Thị M được ly hôn anh Lò Văn V.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HNGĐ–ST Ngày: 12–12–2023 V/v: Ly hôn, nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SL
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Thiệp, bà Lý Thị Vinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phượng - Thư ký Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh SL.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh SL tham gia phiên tòa: Ông Bạc Cầm Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh SL xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 42/2023/TLST - HNGĐ ngày 14-11-2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27-11-2023; giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lường Thị M, sinh năm 1992.
2. Bị đơn: Anh Lò Văn V, sinh năm 1983.
Đều trú tại: Bản HL, xã ME, huyện TC, tỉnh SL. (Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa)
(Anh Lò Văn V hiện đang điều trị nghiện ma túy tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên hòa giải nguyên đơn chị Lƣờng Thị M trình bày:
Chị Lường Thị M và anh Lò Văn V kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn ngày 18/9/2022 tại Ủy ban nhân dân xã ME, huyện TC, tỉnh SL, kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ép buộc. Vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh Lò Văn V nghiện ma túy, chị M đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh V không nghe dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay anh Lò Văn V đang cai nghiện ma túy tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La. Chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị ly hôn với anh Lò Văn V.
Về con chung: Chị Lường Thị M và anh Lò Văn V có 03 con chung: Cháu Lò Thị H, sinh ngày 05/11/2011, cháu Lò Thị L, sinh ngày 19/11/2012 và cháu Lò Văn P, sinh ngày 02/11/2018.
Chị M đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả ba cháu.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị M không yêu cầu anh Lò Văn V cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Chị M cam đoan không có nợ chung.
Trong bản tự khai và tại phiên hòa giải, bị đơn anh Lò Văn V trình bày (Có xác nhận của Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La):
Anh Lò Văn V và chị Lường Thị M kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn ngày 18/9/2022 tại Ủy ban nhân dân xã ME, huyện TC, tỉnh SL, kết hôn tự nguyện. Quá trình vợ chồng chung sống với nhau không phát sinh mâu thuẫn. Anh Lò Văn V xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh không nhất trí ly hôn với chị Lường Thị M.
Về con chung: Anh Lò Văn V và chị Lường Thị M có 03 con chung: Cháu Lò Thị H, sinh ngày 05/11/2011, cháu Lò Thị L, sinh ngày 19/11/2012 và cháu Lò Văn P, sinh ngày 02/11/2018.
Anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết do không muốn ly hôn.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Anh V cam đoan không có nợ chung.
Đương sự không cung cấp thêm chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự khác xuất trình và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.
Chị Lường Thị M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Chị M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ý kiến như trong bản tự khai và tại phiên hòa giải, yêu cầu miễn án phí.
Anh Lò Văn V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt (có xác nhận của Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La): Anh V giữ nguyên ý kiến như trình bày trong bản tự khai và tại phiên hòa giải.
Biên bản xác minh ngày 16/11/2023 tại chính quyền địa phương: Chị Lường Thị M và anh Lò Văn V chung sống với nhau có nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh Lò Văn V nghiện ma túy. Chị Lường Thị M và anh Lò Văn V có 03 con chung. Hiện tại cả ba cháu đang sống cùng chị Lường Thị M.
Ý kiến của cháu Lò Thị H, sinh ngày 05/11/2011 và cháu Lò Thị L, sinh ngày 19/11/2012 (Biên bản ghi ý kiến ngày 17/11/2023): Cháu Lò Thị H và cháu Lò Thị L đều có nguyện vọng muốn ở với chị Lường Thị M.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đang điều trị nghiện ma túy tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Viện kiểm sát đề nghị:
Về tình cảm: Xử cho chị Lường Thị M được ly hôn anh Lò Văn V.
Về con chung: Giao cháu Lò Thị H, sinh ngày 05/11/2011, cháu Lò Thị L, sinh ngày 19/11/2012 và cháu Lò Văn P, sinh ngày 02/11/2018 cho chị Lường Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Về cấp dưỡng: Anh Lò Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, riêng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Lường Thị M theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Lường Thị M yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Lò Văn V có nơi thường trú tại bản HL, xã ME, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh SL thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Lường Thị M, bị đơn anh Lò Văn V vắng mặt tại phiên tòa đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lường Thị M và anh Lò Văn V kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn ngày 18/9/2022 tại Ủy ban nhân dân xã ME, huyện TC, tỉnh SL, kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ép buộc. Vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do anh V nghiện ma túy, chị M đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh V không nghe dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Lò Văn V hiện đang điều trị nghiện ma túy tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La. Tình cảm vợ chồng không còn, chị M yêu cầu ly hôn anh Lò Văn V.
Anh Lò Văn V xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh không nhất trí ly hôn với chị Lường Thị M.
Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, bản tự khai và tại phiên hòa giải, cho thấy cuộc sống chung vợ chồng của chị M và anh V không hạnh phúc, mâu thuẫn kéo dài, nguyên nhân do anh V nghiện ma túy, bỏ bê không quan tâm đến cuộc sống gia đình, chị M đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh V không nghe dẫn đến tình cảm vợ chồng xa cách, thường xuyên xảy ra cãi vã, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc.
Từ các căn cứ nêu trên cho thấy mâu thuẫn của vợ chồng chị M và anh V đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Lường Thị M ly hôn với anh Lò Văn V.
Về con chung: Chị Lường Thị M và anh Lò Văn V có 03 con chung là cháu Lò Thị H, sinh ngày 05/11/2011, cháu Lò Thị L, sinh ngày 19/11/2012 và cháu Lò Văn P, sinh ngày 02/11/2018. Hiện tại cả ba cháu đang sống cùng chị Lường Thị M.
Chị M đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả ba cháu. Anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết do không muốn ly hôn. Ý kiến của cháu Lò Thị H và cháu Lò Thị L đều có nguyện vọng muốn ở với chị Lường Thị M.
Xét thấy: Ý kiến của cháu Lò Thị H và cháu Lò Thị L đều có nguyện vọng muốn ở với chị Lường Thị M. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, chị M luôn đảm bảo sự phát triển tốt về mọi mặt của cả ba cháu. Chị M có nơi ở ổn định, có công việc và thu nhập. Do đó, cần giao cháu Lò Thị H, cháu Lò Thị L và cháu Lò Văn P cho chị Lường Thị M trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lò Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con chung. (Chị Lường Thị M không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con)
Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Chị M, anh V cam đoan không có nợ chung.
Về án phí: Nguyên đơn chị Lường Thị M là người dân tộc thiểu số cư trú ở xã có điều kiện – kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có yêu cầu miễn án phí. Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Lường Thị M. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lường Thị M được ly hôn anh Lò Văn V.
2. Về con chung: Giao cháu Cháu Lò Thị H, sinh ngày 05/11/2011, cháu Lò Thị L, sinh ngày 19/11/2012 và cháu Lò Văn P, sinh ngày 02/11/2018 cho chị Lường Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lò Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con chung. (Chị Lường Thị M không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con)
4. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về tài sản riêng: Không có.
6. Về nợ chung: Chị M, anh V cam đoan không có nợ chung.
7. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Lường Thị M. Hoàn trả chị Lường Thị M số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện TC, tỉnh SL là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0000942, ngày 14 tháng 11 năm 2023.
8. Về quyền kháng cáo: Chị Lường Thị M, anh Lò Văn V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Thuận Châu (2); - Chi cục THADS huyện Thuận Châu; - UBND xã ME, huyện TC, tỉnh SL; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Nghĩa |