- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Ban an HNGD giua chi Hoang Thi Minh N va anh Phuong Van N"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Minh N được ly hôn anh Phương Văn N.
- Căn cứ chính? Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST Ngày: 09/01/2023 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Xuân Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đức Kha.
Bà Lê Thị Minh Khánh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 217/2022/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 181b/2022/QĐ-ST ngày 14/11/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 149/2022/QĐST-HNGĐ ngày 12/12/2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Minh N, sinh ngày 03/10/1992 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Chị N ủy quyền cho chị Hoàng Thị Đ, sinh ngày 02/4/1985; Địa chỉ: thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang nhận và nộp thay các tài liệu.
2. Bị đơn: Anh Phương Văn N, sinh ngày 11/4/1992 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Hiện đang lao động tại Đài Loan, không rõ địa chỉ cụ thể.
Địa chỉ cuối cùng của anh N tại Việt Nam: thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phương Văn C, sinh năm 1964 (vắng mặt)
- Bà Vi Thị V, sinh năm 1968 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Hoàng Thị Minh N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Trước khi kết hôn chị và anh N được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 18/11/2013 Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị về nhà anh N làm dâu và chung sống hòa thuận với gia đình nhà chồng. Năm 2017, do điều kiện kinh tế khó khăn nên chị và anh N bàn bạc để con ở nhà cho ông bà nội chăm sóc và cùng sang Đài Loan lao động. Sang Đài Loan được 03 năm thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian vợ chồng mâu thuẫn anh, chị đã nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng chị và anh N đều xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Kể từ tháng 05/2020 đến nay anh, chị không ai còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Phương Văn N.
Về con chung: Chị và anh N có 01 con chung là cháu Phương Hoàng T, sinh ngày 20/8/2014. Hiện nay cháu đang sinh sống cùng ông bà là ông C, bà V. Do chị về nước thăm gia đình sau đó tiếp tục quay trở lại Đài Loan làm việc nên sau khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao con chung cho anh N chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng tạm giao cho ông C, bà V chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh N về nước sinh sống.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Phương Văn N là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Tại biên bản làm việc ngày 14/11/2022 và 24/11/2022, ông Phương Văn C, bà Vi Thị V là bố mẹ đẻ anh N cho biết: Anh, chị được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn, chị N về nhà ông, bà làm dâu và chung sống hòa thuận. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên anh, chị cùng đi lao động tại Đài Loan. Sau khi sang Đài Loan một thời gian thì anh N nói vợ chồng có mâu thuẫn nhưng không nói rõ nguyên nhân. Ông bà có khuyên bảo anh, chị bỏ qua mâu thuẫn để cùng chăm sóc, nuôi dưỡng con nhưng không được. Anh, chị có 01 con chung là cháu Phương Hoàng T, sinh ngày 20/8/2014. Hiện nay cháu đang sinh sống cùng ông, bà và anh N. Tài sản chung của anh, chị không có. Anh N hiện nay vẫn đang lao động tại Đài Loan, anh N thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng anh N không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của anh N tại Đài Loan.
Ngoài ra ông C, bà V cho biết: Ông, bà đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T thay anh N trong thời gian anh N đi lao động tại Đài Loan cho đến khi anh N về nước. Ông, bà không yêu cầu anh N, chị N phải trích trả tiền chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T cũng như tiền cấp dưỡng chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T.
Cháu Phương Hoàng T trình bày: Hiện nay cháu đang sinh sống cùng bố và ông bà nội, được ông bà nội chăm sóc rất tốt. Nếu bố mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng ở với bố và ông, bà nội.
Tại phiên tòa, chị N, ông C, bà V vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt.
Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị N, biên bản lấy lời khai của ông C, bà V và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Minh N.
Xử cho chị Hoàng Thị Minh N được ly hôn anh Phương Văn N.
Về con chung: Do chị N chỉ về thăm gia đình một thời gian sau đó tiếp tục sang Đài Loan lao động nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Phương Hoàng T, sinh ngày 20/8/2014 cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng tạm giao cho ông C, bà V chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh N về nước sinh sống.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản, công nợ chung: Chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị N khởi kiện xin ly hôn anh N và đề nghị giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về thẩm quyền giải quyết: Theo Công văn trả lời số 23764/QLXNC-P5 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh ngày 09/11/2022 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ công an cung cấp, anh N xuất cảnh gần nhất ngày 03/3/2022, hiện chưa có thông tin nhập. Do đó, Hội đồng xét xử xác định anh N hiện nay đang lao động tại nước ngoài. Anh N là bị đơn, có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về sự vắng mặt của đương sự:
Về sự vắng mặt của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chị N, ông C, bà V có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị N, ông C, bà V.
Về sự vắng mặt của bị đơn: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho anh N thông qua ông C, bà V và đề nghị ông C, bà V thông báo cho anh N biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa nguyên đơn là chị Hoàng Thị Minh N và bị đơn là anh Phương Văn N. Ông C, bà V cho biết anh N vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng anh N không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của anh N tại Đài Loan. Căn cứ lời khai của nguyên đơn, ông C, bà V là bố mẹ đẻ anh N. Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú cuối cùng của anh N trước khi xuất cảnh lần gần nhất là thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh N kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 18/11/2023 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Phương Văn N.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị N với anh N, Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị N và anh N chung sống với nhau hòa thuận. Tuy nhiên sau khi sang Đài Loan được 03 năm thì anh, chị phát sinh mâu thuẫn. Chị N xác định kể từ tháng 05/2020 vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Do đó, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng anh N, chị N không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứu chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N với anh N, xử cho chị N được ly hôn anh N là hoàn toàn phù hợp với Điều 51, Điều 53 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
. Về nuôi con chung: Chị N và anh N có 01 con chung là cháu Phương Hoàng T, sinh ngày 20/8/2014. Từ khi chị N, anh N đi lao động tại Đài Loan thì cháu T do ông C, bà V chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị N đề nghị Tòa án tiếp tục giao con chung cho anh N chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng tạm giao cho ông C, bà V chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh N về nước.
Xét yêu cầu giao cho anh N chăm sóc, nuôi dưỡng con chung nhưng tạm giao cho ông C, bà V chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi anh N về nước sinh sống. Hội đồng xét xử thấy hiện nay anh N, chị N đều đang lao động tại nước ngoài không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Ông C, bà V hiện nay vẫn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T, cháu phát triển bình thường về thể chất và tinh thần, được đi học đầy đủ. Ông C, bà V cũng đồng ý thay anh N chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T cho đến khi anh N về nước sinh sống. Ngoài ra, cháu T trên 07 tuổi có nguyện vọng được ở với bố và ông bà nội. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị N về việc yêu cầu giao con chung cho anh N chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng tạm giao cho ông C, bà V chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh N về nước sinh sống là phù hợp với điều kiện thực tế và phù hợp với các Điều 81, 82, 83, 104 Luật hôn nhân và gia đình.
Trường hợp chị N có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về trích trả tiền chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho ông C, bà V: Do ông, bà không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
. Về tài sản, công nợ chung: Chị N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
. Về quyền kháng cáo:
Chị N, ông C, bà V vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở trong nước nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh N vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở nước ngoài nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Minh N được ly hôn anh Phương Văn N.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Phương Hoàng T, sinh ngày 20/8/2014 cho anh Phương Văn N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật nhưng tạm giao cho ông C, bà V chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh N về nước sinh sống. Chị Hoàng Thị Minh N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, chị Hoàng Thị Minh N không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở chị N thực hiện quyền này.
3. Về án phí: Chị Hoàng Thị Minh N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000669 ngày 25/10/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Hoàng Thị Minh N đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Hoàng Thị Minh N, ông Phương Văn C, bà Vi Thị V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
Anh Phương Văn N có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: -VKSND tỉnh Bắc Giang; -Cục THADS tỉnh Bắc Giang; -UBND xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang; -Cổng thông tin điện tử; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ vụ án; -Lưu Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Xuân Lộc |