vanban.org

Bản án 04/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đình L. Xác định anh Nguyễn Đình L, sinh ngày 06/04/1988 là cha đẻ của cháu cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày 07/02/2021 (tên theo giấy chứng sinh số 75, quyển số 03 ngày 08/02/2021 của bệnh viện huyện Ba Vì). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Đình L xác nhận cha cho con đối với cháu Nguyễn Đình V"
  • Tòa quyết gì? Điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
  • Căn cứ chính? Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST
Ngày 13-01-2023
V/v: Tranh chấp xác định cha cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Công Định

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đỗ Thị Hoài Mơ

Ông Nguyễn Xuân Chung

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 499/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2022, giữa:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đình L, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn HS, xã CS, huyện BV, TP HN

Bị đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã BĐ, huyện LN, tỉnh BG

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Võ Thanh T, sinh năm 1975 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp PN, xã MC, huyện CT, tỉnh TV.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là anh Nguyễn Đình L trình bày:

Anh và chị Vũ Thị H quen nhau từ năm 2018, hai bên cùng đi lao động xuất khẩu tại Đài Loan. Trong thời gian quen nhau, qua tìm hiểu anh biết chị H đã có gia đình nhưng hai bên vợ chồng mâu thuẫn và đã ly thân được vài năm, chị H khi đó đang ở một mình. Giữa anh và chị H có nảy sinh tình cảm và có quan hệ tỉnh cảm với nhau. Sau đó chị H có bầu, đến ngày 07/02/2021 chị H sinh con là cháu Nguyễn Đình V (tên theo giấy chứng sinh số 75, quyển số 03 ngày 08/02/2021 của bệnh viện huyện Ba Vì) tại bệnh viện huyện Ba Vì. Trong thời gian chị H và anh có quan hệ tình cảm thì chị H chưa ly hôn với chồng cũ của chị H là anh Võ Thanh T, sinh năm 1975, địa chỉ: Ấp PN, xã MC, huyện CT, tỉnh TV, hơn nữa khi đó chị H và anh Tâm đã ly thân không ở cùng nhau. Đến nay, chị H và anh Tâm đã ly hôn và chị H đã kết hôn với anh. Khi giải quyết ly hôn giữa chị H và anh Tâm tại TAND huyện Lục Nam, chị H và anh Tâm chỉ giải quyết về con chung giữa anh Tâm và chị H là cháu Võ Thanh Phúc, sinh ngày 15/03/2009, còn con riêng của chị H và anh không giải quyết. Cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày 07/02/2021 (tên theo giấy chứng sinh số 75, quyển số 03 ngày 08/02/2021 của bệnh viện huyện Ba Vì) được sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa chị H và anh Tâm nhưng chưa đăng ký khai sinh mà chỉ có giấy chứng sinh. Anh đã đi giám định AND giữa anh và cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày 07/02/2021 (tên theo giấy chứng sinh số 75, quyển số 03 ngày 08/02/2021 của bệnh viện huyện Ba Vì). Kết quả giám định AND số KQ 20362221 ngày 14/04/2021 của công ty TNHH dịch vụ khoa học kỹ thuật GENPRO xác định anh là bố đẻ của cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày 07/02/2021 (tên theo giấy chứng sinh số 75, quyển số 03 ngày 08/02/2021 của bệnh viện huyện Ba Vì).

Nay anh làm đơn này yêu cầu Tòa án tuyên bố cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày 07/02/2021 (tên theo giấy chứng sinh số 75, quyển số 03 ngày 08/02/2021 của bệnh viện huyện Ba Vì) là con đẻ của anh. Tại phiên tòa hôm nay anh có đơn xin xét xử vắng mặt.

Theo bản tự khai bị đơn là chị Vũ Thị H trình bày: Chị và anh Võ Thanh T kết hôn với nhau năm 2009. Đến năm 2011 thì hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở Bắc Giang ở. Năm 2014, chị đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Năm 2018 thì chị quen biết anh Nguyễn Đình L. Hai người có quan hệ tình cảm với nhau. Năm 2021, chị mang thai và về Việt Nam sinh con. Nay anh L đề nghị Tòa án công nhận Kết quả giám định số KQ 20362221 ngày 14/04/2021 của công ty TNHH dịch vụ khoa học kỹ thuật GENPRO và xác định anh Nguyễn Đình L là cha đẻ của cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày 07/02/2021 (tên theo giấy chứng sinh số 75, quyển số 03 ngày 08/02/2021 của bệnh viện huyện Ba Vì) chị đồng ý. Chị đã được Tòa án tống đạt hợp các văn bản nhưng vì lý do công việc chị đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Võ Thanh T trình bày: Anh xác định việc chị H trình bày về quá trình kết hôn, ly hôn và con chung giữa anh và chị H là đúng. Giữa anh và chị H chỉ có một con chung là cháu Võ Thanh Phúc, sinh ngày 15/03/2009. Kể từ năm 2018 thì chị H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan anh và chị H chấm dứt mọi quan hệ tình cảm từ đó. Nên anh xác định cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày 07/02/2021 (tên theo giấy chứng sinh số 75, quyển số 03 ngày 08/02/2021 của bệnh viện huyện Ba Vì) không phải là con của anh và chị H. Anh đề nghị Tòa án cho anh được vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như các phiên tòa xét xử của vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự anh L, chị H, anh Tâm chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đình L, xác định anh Nguyễn Đình L là cha đẻ của cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày 07/02/2021 (tên theo giấy chứng sinh số 75, quyển số 03 ngày 08/02/2021 của bệnh viện huyện Ba Vì).

Về án phí: Các đương sự được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho đương sự. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Nên căn cứ các Điều 227; Điều 228; 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

Anh Nguyễn Đình L khởi kiện vụ án “Yêu cầu xác định cha cho con” đối với bị đơn là chị Vũ Thị H, sinh năm 1988, địa chỉ cư trú tại Thôn T, xã BĐ, huyện LN, tỉnh BG. Giữa anh L và chị H có đơn lựa chọn Tòa án nhân dân huyện Lục Nam là nơi giải quyết vụ án. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Lục Nam thụ lý, giải quyết đối với vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định Điều 28 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày 07/02/2021 (tên theo giấy chứng sinh số 75, quyển số 03 ngày 08/02/2021 của bệnh viện huyện Ba Vì) được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa anh Võ Thanh T và chị Vũ Thị H nên Tòa án đưa anh Võ Thanh T vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình và Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đình L thì thấy:

Năm 2009, chị Vũ Thị H và anh Võ Thanh T kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và đến năm 2018 hai bên chấm dứt quan hệ tình cảm và kinh tế. Sau chị H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan và có quen biết anh Nguyễn Đình L và hai bên có quan hệ tình cảm với nhau. Chị H có thai và đến ngày 07/02/2021 chị H sinh cháu Nguyễn Đình V (tên theo giấy chứng sinh số 75, quyển số 03 ngày 08/02/2021 của bệnh viện huyện Ba Vì). Ngày 22/04/2022 chị H và anh Tâm ly hôn theo bản án số 43/2022/HNGĐ-ST của TAND huyện Lục Nam.

Quá trình giải quyết vụ án, anh L và chị H đều xác định anh L là cha đẻ của cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày 07/02/2021 (tên theo giấy chứng sinh số 75, quyển số 03 ngày 08/02/2021 của bệnh viện huyện Ba Vì). Anh Võ Thanh T xác định từ năm 2018 đến nay giữa anh Tâm và chị H đã ly thân và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm. Anh Tâm xác định cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày 07/02/2021 (tên theo giấy chứng sinh số 75, quyển số 03 ngày 08/02/2021 của bệnh viện huyện Ba Vì) không liên quan gì đến anh.

Tại Kết quả xét nghiệm ADN số KQ 20362221 ngày 14/04/2021 của công ty TNHH dịch vụ khoa học kỹ thuật GENPRO đã kết luận: Anh Nguyễn Đình L và cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày 07/02/2021 (tên theo giấy chứng sinh số 75, quyển số 03 ngày 08/02/2021 của bệnh viện huyện Ba Vì) có quan hệ huyết thống Cha – Con với xác suất 99,9999%.

Việc anh L yêu cầu xác định anh L là cha đẻ của cháu cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày 07/02/2021 (tên theo giấy chứng sinh số 75, quyển số 03 ngày 08/02/2021 của bệnh viện huyện Ba Vì) là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét công khai tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh L, cần xác định anh Nguyễn Đình L là cha đẻ của cháu cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày 07/02/2021 (tên theo giấy chứng sinh số 75, quyển số 03 ngày 08/02/2021 của bệnh viện huyện Ba Vì) là phù hợp với quy định tại các Điều 88, 89, 91 và khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về án phí: Theo qui định tại điểm b Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì vụ án này được miễn nộp tiền án phí. Do vậy các đương sự trong vụ án không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 88, Điều 89, Điều 91, khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình;

Điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đình L.

Xác định anh Nguyễn Đình L, sinh ngày 06/04/1988 là cha đẻ của cháu cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày 07/02/2021 (tên theo giấy chứng sinh số 75, quyển số 03 ngày 08/02/2021 của bệnh viện huyện Ba Vì).

2. Về án phí: Các đương sự không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ