- Tranh chấp gì? Các yêu cầu trong trường hợp chưa có điều kiện áp dụng — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị Mai C - Phạm Hữu T"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Mai C.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST Ngày 11-01-2023 “V/v Yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Trà Giang
2. Ông Nguyễn Văn Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hoàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Khuê – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 198/2022/TLST-HNGĐ ngày 12/10/2022, về việc “Yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/12/2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Mai C, sinh năm: 1972; Địa chỉ: ấp Thanh An, xã Láng Dài, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Phạm Hữu T, sinh năm: 1969; Địa chỉ: ấp Thanh An, xã Láng Dài, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 27/8/2022, bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn bà Bùi Thị Mai C trình bày:
Bà Bùi Thị Mai C và ông Phạm Hữu T tự nguyện chung sống vợ chồng với nhau từ năm 1991 đến nay vẫn không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống thời gian đầu rất hạnh phúc và ông bà có 02 con chung. Sau này, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do ông T chơi cờ bạc dẫn đến nợ nần rất nhiều, tạo thành gánh nặng về kinh tế cho gia đình, ông T đã bị Tòa án xét xử và đi chấp hành án về hành vi đánh bạc nhưng vẫn không hối cải. Tình trạng trên kéo dài làm cho tình cảm của bà C dành cho ông T không còn và không thể hàn gắn. Bà C và ông T không chung sống cùng nhau từ năm 2019 đến nay, mặc ai nấy sống, không ai quan tâm đến nhau. Nay tình cảm của không còn nên bà C làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận bà C và ông T là vợ chồng.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Phạm Phong P, sinh năm 1992 và Phạm Thị Thu N, sinh năm 2001. Do các con đã trưởng thành và hiện đã có gia đình riêng nên bà không có yêu cầu về con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Phạm Hữu T trình bày:
Ông T đồng ý với lời khai của bà C về thời gian chung sống vợ chồng, con chung, tài sản chung, nợ chung. Ông và bà C tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 1991 trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc nhưng không đăng ký kết hôn. Nguyên nhân không đăng ký kết hôn là do hoàn cảnh kinh tế quá khó khăn và không được học hành nhiều nên không hiểu biết các quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống hai bên thường xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông có chơi cờ bạc dẫn đến nợ nần nhiều, cuộc sống có khó khăn về kinh tế, ông T đã bị Tòa án xét xử 03 lần và đi chấp hành án về hành vi đánh bạc. Từ khi ông đi chấp hành án về năm 2019 đến nay thì hai bên không chung sống cùng nhau, tình cảm đã không còn và không thể hàn gắn.
Nay, bà C đề nghị tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà C và ông T thì ông đồng ý.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Phạm Phong P, sinh năm 1992 và Phạm Thị Thu N, sinh năm 2001. Con chung đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu tòa giải quyết.
- Ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa: Quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán đã tiến hành đúng các quy định về thủ tục tố tụng được quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại chương XIV Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn bà Bùi Thị Mai C và bị đơn ông Phạm Hữu T đều chấp hành đúng theo quy định của pháp luật và đều có mặt tại phiên tòa; nên đề nghị xét xử vụ án theo luật định.
Về nội dung vụ án: Bà Bùi Thị Mai C yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với ông Phạm Hữu T là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà C và ông T; về con chung: Có 02 con chung tên Phạm Phong P, sinh năm 1992 và Phạm Thị Thu N, sinh năm 2001. Con chung đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét;
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Bùi Thị Mai C yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng với ông Phạm Hữu T, bị đơn đang cư trú tại huyện Đất Đỏ, thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ theo khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét yêu cầu của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Mai C và ông Phạm Hữu T tự nguyện chung sống từ năm 1991 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.
Theo lời trình bày của bà C, ông T thì nguyên nhân ông bà không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật mà chung sống với nhau như vợ chồng là do điều kiện kinh tế khó khăn, không có hiểu biết về quy định của pháp luật.
Trong quá trình chung sống, giữa ông bà thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, tranh cãi do ông T có chơi cờ bạc dẫn đến nợ nần, tạo thành gánh nặng kinh tế gia đình. Bà C và gia đình đã khuyên nhủ, bỏ qua nhiều lần nhưng ông T vẫn không thay đổi. Mâu thuẫn trên kéo dài, không thể giải quyết được nên thường xảy ra tranh cãi và mâu thuẫn ngày càng lớn hơn. Bà C nhận thấy việc sống chung không có hạnh phúc, cả hai đã không còn sống chung từ năm 2019 đến nay, hai bên đều không còn tình cảm với nhau và đều có yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng.
Hội đồng xét xử nhận thấy quan hệ hôn nhân phải trên cơ sở cả hai cùng tự nguyện, không ai bị ép buộc, cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững nhưng hiện nay tình cảm giữa bà C ông T không còn; hơn nữa thời gian ông bà chung sống vợ chồng với nhau cũng đã lâu nhưng ông bà vẫn chưa đi đăng đi kết hôn theo quy định của pháp luật. Vì vậy cần áp dụng điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình và Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001; khoản 1 Điều 14; Điều 15 Luật Hôn nhân gia đình, tuyên xử không công nhận bà C và ông T là vợ chồng.
Về con chung: Bà C và ông T có 02 con chung tên là Phạm Phong P, sinh năm 1992 và Phạm Thị Thu N, sinh năm 2001. Con chung đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 8, 9 14, 15 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình và Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Mai C.
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Bùi Thị Mai C và ông Phạm Hữu T là vợ chồng.
2. Về con chung: Bà Bùi Thị Mai C và ông Phạm Hữu T có 02 con chung là tên là Phạm Phong P, sinh năm 1992 và Phạm Thị Thu N, sinh năm 2001. Con chung đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Bà Bùi Thị Mai C phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0009940 ngày 06/10/2022 của C Cục Thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ. Bà C đã nộp xong án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND huyện Đất Đỏ; - THA huyện Đất Đỏ; - Các đương sự; - UBND TT. Phước Hải; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thị Mỹ Dung |