vanban.org

Bản án 04/2023/HC-ST — Hành chính

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 29/05/2023 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.

Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai phải giải quyết khiếu nại lần hai đối với khiếu nại của bà Nguyễn Thị N về khiếu nại Văn bản số 1031/UBND-NC ngày 04/8/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện K. Bà Nguyễn Thị N không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm; hoàn trả lại ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính giữa bà Nguyễn Thị Nam và Chủ tịch UBND huyện Kông Chro"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật tố tụng hành chính; Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Điều 105 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HC-ST
Ngày 29-5-2023
“V/v khi u i n h nh vi h nh
ch nh buộc giải quy t hi u
nại”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên to : Ông Phan Tiến Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Văn Minh

2. Ông Đỗ Duy Nam.

- Thƣ ký phiên toà: Bà Lữ Thị Như Quỳnh – Thư ký Tòa án của Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Lương - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 29/2022/TLST-HC ngày 6 tháng 12 năm 2022 về khiếu kiện hành vi hành chính buộc giải quyết khiếu nại theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2023/QĐXXST-HC ngày 4 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

Người hởi i n:

Bà Nguyễn Thị N; địa chỉ: Số 356 đường Nguyễn Huệ, tổ dân phố 2, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai. Có mặt tại phiên tòa.

Người bị i n:

Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai; địa chỉ: Đường Trần Hưng Đạo, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai; do ông Võ Nguyên N, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai, làm người đại diện theo pháp luật.

Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Huỳnh Ngọc A, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai.

Ông Huỳnh Ngọc A vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Ông Nguyễn Đại M; địa chỉ: Số 356 đường Nguyễn Huệ, tổ dân phố 2, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Người hởi i n l b Nguy n Thị N trình bày:

Ngày 11-8-2022, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn K đã ra Quyết định số 989/QĐ-XPHC về việc xử lý vi phạm hành chính đối với bà. Quyết định này không xác định hình thức hình phạt chính cũng như hình phạt bổ sung, mà chỉ có hình thức cưỡng chế độc lập là trái quy định pháp luật. Việc xử lý vi phạm hành chính của Ủy ban nhân dân thị trấn K đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà và việc Ủy ban nhân dân thị trấn K cưỡng chế thửa đất trên của bà để làm con đường hẻm là hoàn toàn trái với quy định của pháp luật.

Bà đã khiếu nại lần đầu Quyết định xử phạt hành chính số 989/QĐ-XPHC ngày 11/8/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn K và Ủy ban nhân dân thị trấn K trả lời bằng Văn bản số 1031/CV-UBND ngày 16-8-2022. Ủy ban nhân dân thị trấn K trả lời bằng văn bản này là không đúng trình tự, mẫu văn bản theo luật khiếu nại năm 2011.

Ngày 17-8-2022, bà khiếu nại nại lần thứ 2 gửi đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K. Tuy nhiên, đã quá 60 ngày mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K không trả lời bằng văn bản theo trình tự, thủ tục của Luật khiếu nại năm 2011.

Bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai giải quyết khiếu nại lần 2.

2. Người bị i n l Chủ tịch Ủy ban nhân dân huy n K v người đại di n theo ủy quyền của người bị i n trình b y:

Ngày 17-8-2022, bà Nguyễn Thị N gửi đơn khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K. Tuy nhiên, nội dung đơn chủ yếu đề cập đến các nội dung liên quan đến nguồn gốc và các vấn đề liên quan đến 234,3 m2 đất đường đi bên cạnh đất của bà Nguyễn Thị N, nên Ủy ban nhân dân huyện K không giải quyết.

Những nội dung liên quan đến diện tích đất mà bà Nguyễn Thị N khiếu nại đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai trả lời tại Công văn số 2106/VP- BTCD ngày 5-7-2022 với nội dung: “ Đối với vụ vi c hi u nại của b N yêu cầu được công nhận v cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với di n t ch 234,3 m2 đường đi bên cạnh đất của b đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huy n K giải quy t (lần đầu) tại Quy t định số 181/QĐ-UBND ng y 24/4/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giải quy t (lần hai) tại Quy t định số 770/QĐ-UBND ngày 21-8-2017 đúng quy định pháp luật... Đây l văn bản trả cuối cùng của Ủy ban nhân dân tỉnh...”. Tiếp đó, Ủy ban nhân dân huyện K có văn bản số 1233/UBND-NC ngày 14-7-2022 về việc chấm dứt giải quyết đơn của bà Nguyễn Thị N với nội dung: “ Đề nghị b Nguy n Thị N thực hi n nghĩa vụ của công dân theo đúng quy định của pháp luật … ”.

Ngày 14-9-2022, Ủy ban nhân dân huyện K nhận đơn tố cáo của bà Nguyễn Thị N, tố cáo ông Chu Văn T, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai.

Ủy ban nhân dân huyện K đã ban hành Quyết định thụ lý tố cáo và có Kết luận số 1971/KL-UBND ngày 26-10-2022. Tại mục 2, phần III của kết luận này nêu lý do Ủy ban nhân dân huyện K không giải quyết đơn khiếu nại lần 2 của bà N và đã gửi văn bản cho bà.

Đối với 234,3 m2 đất giáp với nhà bà N: Sau khi có kết quả giải quyết của các cấp có thẩm quyền, Ủy ban nhân dân huyện K đã bố trí 188 triệu đồng để đầu tư xây dựng tuyến đường hẻm, tuyến đường này đã hoàn thành, đưa vào sử dụng.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan l ông Nguy n Đại M trình b y:

Ngày 11-8-2022, Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện K mời vợ chồng ông lên làm việc và cho biết vợ ông, bà Nguyễn Thị N, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn K xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo Quyết định số 989/QĐ-XPHC.

Phía Ủy ban nhân dân thị trấn K đọc quyết định xử phạt, nhưng ông bà không ký nhận và họ cũng không giao quyết định cho ông bà. Sau đó, Ủy ban nhân dân thị trấn tiến hành cưỡng chế tháo dỡ công trình xây dựng trên đất của ông bà.

Gia đình ông đã khiếu nại theo quy định.

Ngày 16-8-2022, Ủy ban nhân dân thị trấn K ra văn bản số 1031/CV-UBND để trả lời đơn khiếu nại của gia đình ông với nội dung đề nghị ông bà nghiêm túc chấp hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 989/QĐ-XPHC ngày 11-8-2022, nếu không chấp hành sẽ thực hiện cưỡng chế. Việc Ủy ban nhân dân thị trấn K trả lời đơn khiếu nại như vậy là không đúng trình tự và mẫu theo quy định của Luật khiếu nại năm 2011.

Ngày 17-8-2022, ông bà đã làm đơn khiếu nại lần 2 gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K, nhưng đã quá 60 ngày mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K vẫn không giải quyết khiếu nại.

Vì vậy, bà Nguyễn Thị N đã khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K thực hiện hành vi giải quyết khiếu nại lần 2.

Tại phiên tòa:

- Người khởi kiện là bà Nguyễn Thị N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Trước đây bà có yêu cầu ông Hoàng Văn Huy, Luật sư của Công ty Luật TNHH Hãng luật Đại Huy Hoàng thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh bảo vệ cho quyền, lợi ích hợp pháp cho bà. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, bà thấy rằng, bà có thể tự mình bảo vệ cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình nên bà không yêu cầu Luật sư tham gia tố tụng trong vụ án này nữa, đề nghị Tòa án tiến hành phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đại Mai đồng ý với yêu cầu khởi kiện.

- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyến vụ án kể từ khi khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đầy đủ các quy định về tố tụng hành chính.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện, buộc Chủ tịch Ủy ban nhân huyện K phải thực hiện hành vi giải quyết khiếu nại lần 2 cho bà Nguyễn Thị N và buộc Chủ tịch Ủy ban nhân huyện K phải chịu án phí hành chính sơ thẩm; đề nghị Hội đồng xét xử hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị N không nhờ luật sư bảo vệ cho quyền, lợi ích hợp pháp cho mình và tự nguyện rút yêu cầu nhờ luật sư tại “giấy yêu cầu luật sư” đề ngày 22-4-2023; người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện vắng mặt có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 13 Điều 55, khoản 1 Điều 58 của Luật tố tụng hành chính để xét xử vụ án.

Ngày 17-8-2022, bà Nguyễn Thị N gửi đơn khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K, nhưng không được trả lời. Ngày 14-11-2022, bà Nguyễn Thị N khởi kiện vụ án hành chính. Do đó, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử xác định bà Nguyễn Thị N có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án hành chính.

Về nội dung hành vi hành chính bị kiện:

Ngày 11-8-2022, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn K ra Quyết định số 989/QĐ-XPHC có nội dung bà Nguyễn Thị N đã thực hiện hành vi vi phạm là dựng tường rào trái phép (cổng sắt) và trồng cây từ năm 2011 trong phạm vi đất dành cho đường bộ; buộc bà N phải tháo dỡ công trình xây dựng trái phép và khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định.

Do không đồng ý với quyết định xử phạt hành chính này, nên bà Nguyễn Thị N đã khiếu nại lần đầu và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn K trả lời bằng Văn bản số 1031/CV-UBND ngày 16-8-2022 có nội dung yêu cầu gia đình bà Nguyễn Thị N nghiêm túc chấp hành Quyết định số 989/QĐ-XPHC ngày 11-8-2022, nếu quá thời hạn mà không nghiêm túc chấp hành thì sẽ bị cưỡng chế.

Ngày 17-8-2022, bà N khiếu nại nại lần thứ 2 gửi đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K.

Tuy nhiên, đã quá thời hạn quy định tại Điều 37 của Luật khiếu nại, nhưng Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K không giải quyết; do đó, bà Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K phải giải quyết khiếu nại lần 2.

Khoản 1 Điều 3 của Luật tố tụng hành chính quy đinh, quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.

Khoản 1 Điều 7 của Luật khiếu nại quy định, khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính là trái pháp luật, xâm hại trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có quyết định hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính; trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần 2 đ n thủ trưởng cấp trên trực ti p của người có thẩm quyền giải quy t hi u nại lần đầu hoặc hởi i n vụ án h nh ch nh tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Khoản 2 Điều 18 của Luật khiếu nại quy định về thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện là giải quyết khiếu nại lần 2 đối với quyết định hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại.

Tại văn bản số 569/UBND-NC ngày 6-4-2023 (bút lục số 63), người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện cho rằng “…m trả lời công dân bằng hình thức ban h nh văn bản l chưa đúng quy định nên vi c giải quy t đơn của Ủy ban nhân dân thị trấn K hông được xem l giải quy t hi u nại lần đấu. Vị vậy, Ủy ban nhân dân huy n K hông có cơ sở để giải quy t đơn hi u nại lần 2 của b Nguy n Thị N theo quy định”, là không đúng, mà phải coi như Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn K ra Văn bản số 1031/CV-UBND ngày 16-8-2022 là đã ban hành quyết định giải quyết lần đầu và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K phải giải quyết khiếu nại lần 2 đối với đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị N đối với Văn bản số 1031/CV-UBND ngày 16-8-2022 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn K.

Căn cứ vào các quy định đã viện dẫn trên và các tình tiết của vụ án Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện, buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K phải giải quyết khiếu nại lần 2 đối với khiếu nại của bà Nguyễn Thị N về Văn bản số 1031/CV-UBND ngày 16-8-2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn K.

Về án phí hành chính sơ thẩm:

- Bà Nguyễn Thị N không chịu án phí hành chính sơ thẩm, hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm cho người khởi kiện.

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K phải chịu án phí hành chính sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, Điều 116, điểm đ Điều 123, điểm h Điều 143, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 204, Điều 206 của Luật tố tụng hành chính; khoản 1 Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng khoản 1 Điều 7, khoản 2 Điều 18 và Điều 40 của Luật khiếu nại,

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.

- Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai phải giải quyết khiếu nại lần hai đối với khiếu nại của bà Nguyễn Thị N về khiếu nại Văn bản số 1031/UBND-NC ngày 04/8/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện K.

- Bà Nguyễn Thị N không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm; hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị N 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai số 0000218 ngày 6-12-2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K phải chịu án phí hành chính sơ thẩm là 300.000 đồng.

- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND cấp cao tại Đà Nẵng;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh Gia Lai;

- Cục THA dân sự tỉnh Gia Lai;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ, Toà HC, VT.

Phan Tiến Dũng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CÁC HỘI THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Đình N CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Đình N

Cỡ chữ