vanban.org

Bản án 04/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 16/06/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đ.

Về số tiền nợ: Bà Nguyễn Thị Ngọc H phải trả cho Ngân hàng Thương mại Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đ tổng số tiền nợ tính đến hết ngày 16/6/2023 là 787.602.638 (bảy trăm tám mươi bảy triệu, sáu trăm linh hai nghìn, sáu trăm ba mươi tám) đồng, trong đó: Nợ gốc là 644.059.392 (sáu trăm bốn mươi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Đ và bà Nguyễn Thị Ngọc H"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 119 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/DS-ST
Ngày 16-6-2023
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hảo

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lý Thị Thiên Nga

Bà Phạm Thị Bấm

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 01 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 244/2023/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 327/2022/QĐST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đ, địa chỉ trụ sở: Đường N, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đoàn Bá D, nơi cư trú: Đường Đ, phường L, quận B, thành phố Hà Nội, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 331/2023/UQ-OCEANBANK.05.02 ngày 10/5/2023); có mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc H, nơi cư trú: Đường A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 29 tháng 7 năm 2022, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đ (viết tắt là Ngân hàng Đ) trình bày như sau:

Bà Nguyễn Thị Ngọc H vay vốn của Ngân hàng Đ - Chi nhánh Hà Nội theo Hợp đồng cho vay số 0110/2021-HĐCV/OCEANBANK.CNHANOI ngày 08/06/2021 và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng cho vay số 0110/2021-HĐCV-SĐBS/OCEANBANK.800-NTNH ngày 29/9/2021, cụ thể: Số tiền vay: 724.000.000 đồng; thời gian vay: 72 tháng; mục đích vay: Thanh toán tiền mua xe ô tô FORD RANGER DBL 2.0 STG4 10AT 4X4 WILDTRAK theo hợp đồng mua bán xe ô tô số 23210667 ký ngày 03/06/2021 giữa Công ty TNHH MTV Kinh doanh và Dịch vụ ô tô Hà Nội và bà Nguyễn Thị Ngọc H; lãi suất cho vay trong hạn: Lãi suất ưu đãi 7,7%/năm được áp dụng trong 12 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên. Sau khi hết thời hạn lãi suất ưu đãi lãi suất cho vay bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ tối thiểu 3,5%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; lãi suất chậm trả lãi bằng 10%/năm; trả nợ gốc và lãi hàng tháng vào ngày 25.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay là 01 Xe ô tô FORD RANGER màu trắng mang biển kiểm soát: 15C-380.00, số khung: MNCUMFF60MW151848, số máy: YN2QWM151848 theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 15010016 do Phòng CSGT- CATP Hải Phòng cấp ngày 07/06/2021 cho bà Nguyễn Thị Ngọc H theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 0110/2021- HĐTC/OCEANBANK.CNHANOI ngày 08/06/2021 và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số 0110/2021-HĐTC/OCEANBANK800-NGUYENTHINGOCH ngày 15/06/2021. Việc thế chấp trên được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Theo Giấy nhận nợ số 0110/2021-GNN/OCEANBANK.CNHANOI ngày 10/06/2021 giữa Ngân hàng Đ - Chi nhánh Hà Nội và bà Nguyễn Thị Ngọc H, Ngân hàng đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị Ngọc H số tiền là 724.000.000 đồng. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Ngọc H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên khoản vay trên đã bị chuyển nợ quá hạn từ ngày 26/04/2022. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở và tạo điều kiện để bà Nguyễn Thị Ngọc H khắc phục khó khăn, thu xếp thanh toán khoản nợ nhưng bà H đều không thực hiện.

Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc H trả toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 21/07/2022 là 705.791.088 đồng, trong đó nợ gốc: 649.059.392 đồng, nợ lãi trong hạn: 54.996.502 đồng, nợ lãi chậm trả gốc: 883.329 đồng, nợ lãi chậm trả lãi: 851.866 đồng. Bà Nguyễn Thị Ngọc H phải tiếp tục trả tiền lãi theo hợp đồng cho đến ngày bà Nguyễn Thị Ngọc thanh toán được toàn bộ khoản vay.

Trong trường hợp bà Nguyễn Thị Ngọc H không trả nợ hoặc không trả nợ đầy đủ, đề nghị Toà án tuyên Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp là 01 xe ô tô Ford Ranger màu trắng, BKS 15C-380.00, số khung MNCUMFF60MW151848, số máy YN2QWM151848 theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 15010016 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố Hải Phòng cấp ngày 07/06/2021 cho bà Nguyễn Thị Ngọc H theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 0110/2021- HĐTC/OCEANBANK.CNHANOI ngày 08/06/2021 và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số 0110/2021-HĐTC/OCEANBANK800-NGUYENTHINGOCH ngày 15/06/2021 để thu hồi nợ.

* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày:

Bà Nguyễn Thị Ngọc H xác nhận đã vay vốn của Ngân hàng Đ - Chi nhánh Hà Nội theo Hợp đồng cho vay số 0110/2021-HĐCV/OCEANBANK.CNHANOI ký ngày 08/06/2021 với số tiền vay: 724.000.000 đồng; thời gian vay: 72 tháng; mục đích vay: Mua xe ô tô FORD RANGER DBL 2.0 STG4 10AT 4X4 WILDTRAK theo hợp đồng mua bán xe ô tô số 23210667 ký ngày 03/06/2021; lãi suất cho vay: 7,7%/năm; trả nợ gốc và lãi hàng tháng vào ngày 25.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay là 01 Xe ô tô FORD RANGER màu trắng mang BKS 15C-380.00, số khung: MNCUMFF60MW151848, số máy: YN2QWM151848 theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 15010016 do Phòng CSGT- CATP Hải Phòng cấp ngày 07/06/2021 cho bà Nguyễn Thị Ngọc H theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 0110/2021- HĐTC/OCEANBANK.CNHANOI ngày 08/06/2021 và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản ngày 15/06/2021. Việc thế chấp trên được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình thực hiện Hợp đồng cho vay, do khó khăn về kinh tế, nên bà H không trả nợ được đúng hạn. Bà H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 26/04/2022. Tổng nghĩa vụ trả nợ tạm tính đến ngày 21/07/2022 là 705.791.088 đồng, trong đó nợ gốc: 649.059.392 đồng, nợ lãi: 54.996.502 đồng, phạt chậm trả lãi: 851.866 đồng, phạt chậm trả gốc: 883.329 đồng. Bà H sẽ có trách nhiệm thanh toán số tiền này cho Ngân hàng và đề nghị lộ trình thanh toán nợ như sau: Vào ngày cuối cùng mỗi tháng bà H sẽ thanh toán cho Ngân hàng số tiền 3.000.000 đồng/tháng vào nợ gốc đến khi thanh toán hết khoản nợ nợ gốc cho Ngân hàng. Còn khoản nợ lãi, bà H đề nghị Ngân hàng miễn cho bà H do hoàn cảnh kinh tế quá khó khăn.

Về tài sản bảo đảm: Khi mua xong xe ô tô Ford Ranger màu trắng, BKS 15C-380.00, bà H đã cho em họ bà H là anh Nguyễn Anh Tuấn, sinh năm 1983 sử dụng. Hiện nay chiếc xe này đang ở đâu, bà H cũng không nắm được do từ thời điểm mua chiếc xe trên và thế chấp cho Ngân hàng, bà H hoàn toàn không quản lý sử dụng tài sản này.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ra quyết định yêu cầu bà H cung cấp họ tên, nơi cư trú của người đang trực tiếp quản lý, sử dụng chiếc xe ô tô Ford Ranger màu trắng, BKS 15C-380.00 nhưng bà H không cung cấp. Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp 02 lần nhưng bà H không mang tài sản thế chấp đến theo yêu cầu của Tòa án nên việc xem xét, thẩm định tại chỗ không tiến hành được.

* Tại phiên tòa.

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà H trả toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 16/6/2023 là 787.602.638 đồng, trong đó nợ gốc: 644.059.392 đồng, nợ lãi trong hạn: 116.725.810 đồng, nợ lãi chậm trả gốc: 18.224.082 đồng, nợ lãi chậm trả lãi: 8.593.654 đồng. Bà H phải tiếp tục trả tiền lãi theo hợp đồng cho đến ngày bà H thanh toán được toàn bộ khoản vay.

Trong trường hợp bà H không trả nợ hoặc không trả nợ đầy đủ, đề nghị Toà án tuyên Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp là 01 xe ô tô Ford Ranger màu trắng, BKS 15C-380.00, số khung MNCUMFF60MW151848, số máy YN2QWM151848 theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 15010016 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố Hải Phòng cấp ngày 07/06/2021 cho bà Nguyễn Thị Ngọc H theo Hợp đồng thế chấp số 0110/2021-HĐTC/OCEANBANK.CNHANOI ngày 10/6/2021 để thu hồi nợ.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

Kiểm sát viên có ý kiến như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, vi phạm quy định tại các điều 70; 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 91; 95 Luật Các tổ chức tín dụng; các điều 292; 299; 317; 319; 320; 321; 322; 323; 463 và 466 Bộ luật Dân sự; các điều 7; 8; 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Đ đối với bà Nguyễn Thị Ngọc H: Buộc bà H phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ tính đến ngày 16/6/2023 là 787.602.638 đồng, trong đó: nợ gốc là 644.059.392 đồng, nợ lãi trong hạn là 116.725.810 đồng, lãi quá hạn là 18.224.082 đồng, lãi trên lãi chậm trả là 8.593.654 đồng. Bà H phải tiếp tục trả tiền lãi theo hợp đồng vay cho đến ngày bà H thanh toán được toàn bộ khoản vay.

Trường hợp bà H không trả nợ hoặc không trả nợ đầy đủ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại đối với tài sản thế chấp cho khoản vay để xử lý nợ, cụ thể: 01 xe ô tô BKS: 15C-380.00 theo giấy chứng nhận xe ô tô số 15010016 do Phòng Cảnh sát giao thông – Công an thành phố Hải Phòng cấp cho bà Nguyễn Thị Ngọc H ngày 07/6/2021.

Về án phí: Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên toà, Tòa án nhận định:

- Về áp dụng pháp luật tố tụng:

+ Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Đây là vụ án tranh chấp về dân sự giữa tổ chức có đăng ký kinh doanh là Ngân hàng Đ và cá nhân là bà Nguyễn Thị Ngọc H không có mục đích lợi nhuận (tranh chấp về hợp đồng tín dụng) được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú trên địa bàn quận Ngô Quyền nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về sự vắng mặt của bị đơn:

Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về áp dụng pháp luật nội dung:

+ Về tính pháp lý của Hợp đồng tín dụng:

Hợp đồng cho vay số 0110/2021-HĐCV/OCEANBANK.CNHANOI ngày 08/06/2021 và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng cho vay số 0110/2021-HĐCV-SĐBS/OCEANBANK.800-NTNH ngày 29/9/2021 giữa Ngân hàng Đ và bà Nguyễn Thị Ngọc H phù hợp với quy định tại các điều 116; 117; 119 của Bộ luật Dân sự; các bên tham gia giao kết hợp đồng trên cơ sở tự nguyện, các điều khoản của hợp đồng không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Vì vậy, hợp đồng trên là hợp pháp, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.

+ Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Quá trình thực hiện Hợp đồng cho vay số 0110/2021-HĐCV/OCEANBANK.CNHANOI ngày 08/06/2021, nguyên đơn đã thực hiện đúng các thỏa thuận trong hợp đồng, giải ngân cho bị đơn vay đủ số tiền 724.000.000 đồng đồng, thể hiện tại Giấy nhận nợ số 0110/2021-GNN/OCEANBANK.CNHANOI ngày 10/06/2021 giữa Ngân hàng Đ - Chi nhánh Hà Nội và bà Nguyễn Thị Ngọc H. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà H đã trả được tiền nợ gốc là 79.940.908 đồng, số nợ gốc còn lại là 644.059.092 đồng hiện chưa trả được và khoản vay trên đã bị chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 26/04/2022. Căn cứ Bảng kê tính lãi do Ngân hàng cung cấp xác định việc tính số tiền lãi của Ngân hàng là đúng thỏa thuận trong hợp đồng cho vay, văn bản sửa đổi, bổ sung, giấy nhận nợ và phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Nguyễn Thị Ngọc H phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 16/6/2023 là 787.602.638 đồng, trong đó nợ gốc: 644.059.392 đồng, nợ lãi trong hạn: 116.725.810 đồng, nợ lãi chậm trả gốc: 18.224.082 đồng, nợ lãi chậm trả lãi: 8.593.654 đồng theo quy định tại các điều 463; 465; 466 Bộ luật Dân sự.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị Ngọc H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận Hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Về việc phát mại tài sản thế chấp: Bà H xác nhận đã thế chấp tài sản là 01 xe ô tô Ford Ranger màu trắng, BKS 15C-380.00, số khung MNCUMFF60MW151848, số máy YN2QWM151848 theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 15010016 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố Hải Phòng cấp ngày 07/06/2021 cho bà Nguyễn Thị Ngọc H theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 0110/2021- HĐTC/OCEANBANK.CNHANOI ngày 08/06/2021 và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số 0110/2021- HĐTC/OCEANBANK800-NGUYENTHINGOCH ngày 15/06/2021 để đảm bảo cho khoản vay. Bà H khai chiếc xe trên hiện do người khác đang quản lý, sử dụng nhưng không cung cấp được họ tên, địa chỉ của họ. Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp 02 lần nhưng do bà H không mang tài sản đến nên việc xem xét, thẩm định tại chỗ không tiến hành được. Tòa án đã xác minh tại Sở Giao thông vận tải Hải Phòng và Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt - Công an thành phố Hải Phòng cho thấy chiếc xe trên vẫn thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Ngọc H và đang lưu hành, hiện không có thông tin đăng nhập thiết bị giám sát hành trình của phương tiện.

Tại buổi hòa giải ngày 02/02/2023, bà H xác nhận trường hợp bà H không trả được số tiền nợ trên, bà H đồng ý để Ngân hàng yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản trên để thu hồi nợ. Như vậy, cần căn cứ các điều 292; 299; 317; 319; 320 và 323 Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 0110/2021- HĐTC/OCEANBANK.CNHANOI ngày 08/06/2021 để thu hồi nợ trong trường hợp tìm thấy tài sản trên.

- Về án phí:

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền phải trả cho nguyên đơn là: {20.000.000 đồng + (387.602.638 đồng x 4%)} = 35.505.000 đồng (làm tròn). Trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

- Về quyền kháng cáo:

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 116; 117; 119; 292; 299; 317; 319; 320; 323; 463; 465; 466 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào các điều 90; 91; 94; 95; 98 của Luật Các tổ chức tín dụng;

Căn cứ vào các điều 7; 8; 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đ.

1. Về số tiền nợ:

Bà Nguyễn Thị Ngọc H phải trả cho Ngân hàng Thương mại Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đ tổng số tiền nợ tính đến hết ngày 16/6/2023 là 787.602.638 (bảy trăm tám mươi bảy triệu, sáu trăm linh hai nghìn, sáu trăm ba mươi tám) đồng, trong đó: Nợ gốc là 644.059.392 (sáu trăm bốn mươi bốn triệu, không trăm năm mươi chín nghìn, ba trăm chín mươi hai) đồng; nợ lãi trong hạn là 116.725.810 (một trăm mười sáu triệu, bảy trăm hai mươi lăm nghìn, tám trăm mười) đồng; nợ lãi chậm trả gốc là 18.224.082 (mười tám triệu, hai trăm hai mươi bốn nghìn, không trăm tám mươi hai) đồng; nợ lãi chậm trả lãi là 8.593.654 (tám triệu, năm trăm chín mươi ba nghìn, sáu trăm năm mươi tư) đồng theo Hợp đồng cho vay số 0110/2021-HĐCV/OCEANBANK.CNHANOI ngày 08/06/2021 và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng cho vay số 0110/2021-HĐCV-SĐBS/OCEANBANK.800-NTNH ngày 29/9/2021.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị Ngọc H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận Hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về việc phát mại tài sản thế chấp:

Trường hợp bà Nguyễn Thị Ngọc H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ trên thì Ngân hàng Thương mại Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đ được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là 01 xe ô tô Ford Ranger màu trắng, BKS 15C-380.00, số khung MNCUMFF60MW151848, số máy YN2QWM151848 theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 15010016 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố Hải Phòng cấp ngày 07/06/2021 cho bà Nguyễn Thị Ngọc H trong trường hợp tìm thấy tài sản trên.

3. Về án phí:

Bà Nguyễn Thị Ngọc H phải nộp 35.505.000 đồng (ba mươi lăm triệu, năm trăm linh năm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 16.115.000 (mười sáu triệu, một trăm mười lăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006794 ngày 12/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ