vanban.org

Bản án 04/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V. Buộc ông Trần Tấn Kh và bà Trần Thị S có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền nợ là 146.894.395 đồng, tính đến ngày 08/6/2023. Trong đó nợ gốc là 69.560.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Nguyên đơn Ngân hàng TMCP V - bị đơn ông Trần Tấn K và bà Trần Thị S"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG BÔNG
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:04/2023/DS-ST
Ngày: 08/6/2023
V/v: Tranh chấp hợp đồng
tín dụng

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Lệ Chi và bà Lê Thị Nga

Thư ký phiên tòa: Phan Tấn Duy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Bông,tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Bông

xét xử sơ thẩm công Kh vụ án thụ lý số: 49/2022/TLST-DS ngày 06 tháng 04 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXX-DSST ngày 14 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2023/QĐST-DS ngày 12/5/2023, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V.

Địa chỉ trụ sở chính: đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội;

- Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chức vụ: Chủ tịch HĐQT;

- Đại diện theo ủy quyền:

+ Ông Hoàng Anh T – Giám đốc Trung tâm xử lý nợ pháp lý

+ Ông Đỗ Thành Tr – Chức vụ: Phó giám đốc Trung tâm xử lý nợ pháp

lý

+ Ông Phạm Tuấn A – Chức vụ: Phó giám đốc Trung tâm xử lý nợ pháp

lý

+ Bà Thái Thị Hồng H – Chức vụ: Phó giám đốc Trung tâm xử lý nợ

pháp lý

Địa chỉ liên lạc: đường Q, phường T, tp B, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện tham gia tố tụng: Ông Phạm Dương Th (có mặt)

Địa chỉ liên lạc: đường Q, phường T, tp B, tỉnh Đắk Lắk

* Bị đơn: Ông Trần Tấn Kh, sinh năm 1985 và bà Trần Thị S, sinh năm

1990 (đều vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng, đại diện theo ủy quyền của

nguyên đơn trình bày:

Ngày 26/3/2018, ông Trần Tấn Kh và bà Trần Thị S có ký kết Hợp đồng

cho vay kiêm Hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1803190563032, tại Ngân hàng TMCP V - chi nhánh tp. H - phòng giao dịch B, để vay số tiền 138.000.000 đồng (một trăm ba mươi tám triệu đồng), thỏa thuận lãi suất cố định trong 12 tháng đầu tại thời điểm giải ngân là 9,9%/năm, từ tháng 13 trở đi thay đổi định kỳ 3 tháng/lần, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn kể từ thời điểm chuyển nợ quá hạn, thời hạn vay 48 tháng, mục đích vay: vay mua ô tô nhãn hiệu KENBO mới 100%.

Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông Trần Tấn Kh và bà Trần Thị S đã

thế chấp 01 xe ô tô tải nhãn hiệu KENBO, biển số 47C – 184.30, số khung 01BJHDA00126, được Công an tỉnh Đắk Lắk cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 039398 cho ông Trần Tấn Kh ngày 22/3/2018. Việc thế chấp đã được đăng ký tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại tp Hồ Chí Minh vào ngày 26/3/2018.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Kh và bà S đã vi phạm nghĩa vụ thanh

toán nợ gốc và nợ lãi phát sinh nên toàn bộ khoản nợ đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 15/3/2019. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Kh và bà S phải trả cho Ngân hàng 117.045.845 đồng tiền nợ phát sinh tạm tính đến ngày 09/3/2023, trong đó nợ gốc là 69.560.005 đồng, nợ lãi là 47.485.840 đồng. Yêu cầu ông Trần Tấn Kh và bà Trần Thị S tiếp chịu lãi phát sinh theo quy định tại Hợp đồng tín dụng từ ngày10/3/2022 cho đến khi ngày trả hết nợ.

Trường hợp ông Trần Tấn Kh và bà Trần Thị S không thực hiện nghĩa vụ

trả nợ thì Ngân hàng TMCP V có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là 01 xe ô tô tải nhãn hiệu KENBO, biển số 47C – 184.30, số khung 01BJHDA00126, được Công an tỉnh Đắk Lắk cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 039398 cho ông Trần Tấn Kh ngày 22/3/2018.

Trường hợp xử lý tài sản bảo đảm mà vẫn không đủ trả nợ thì ông Kh và

bà S phải tiếp tục trả hết số nợ còn lại.

Tại bản kết luận giám định số 959/KL-KTHS ngày 30/9/2022 Phòng kỹ

thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: chữ ký, chữ viết họ tên Trần Tấn Kh trên mẫu cần giám định (Hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1803190563032 ngày 26/3/2018) và trên mẫu so sánh (Hợp đồng uỷ quyền số 240788237/HĐUQ ngày 25/4/2019 có chứng thực của phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H và Hợp đồng thế chấp QSD đất và tài sản gắn liền với đất số 240788237/HĐTC ngày 25/4/2019 có chứng thực của phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H) do cùng 01 người viết ra.

Tương tự, chữ ký, chữ viết họ tên Trần Thị S trên mẫu cần giám định và

trên mẫu so sánh do cùng 01 người viết ra.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương, ông Kh và bà S đã bỏ đi khỏi

địa phương, không rõ đi đâu, làm gì.

Tại phiên tòa ngày 12/5/2023: bị đơn vắng mặt không có lý do dù đã

được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX quyết định hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa hôm nay: bị đơn ông Trần Tấn Kh và bà Trần Thị S vắng

mặt lần hai. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Phạm Dương Th, trình

bày: Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc ông Trần Tấn Kh và bà Trần Thị S có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 69.560.005 đồng và tiền lãi phát sinh tạm tính đến ngày xét xử (ngày 08/6/2023) là 77.334.390 đồng. Yêu cầu ông Kh và bà S tiếp tục trả lãi phát sinh theo quy định tại Hợp đồng cho vay kiêm Hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1803190563032 ngày 26/3/2018, kể từ ngày 09/6/2023 cho đến khi trả hết nợ. Trường hợp ông Trần Tấn Kh và bà Trần Thị S không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP V có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay kiêm Hợp đồng thế chấp xe ô tô cũng như quy định của pháp luật để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Yêu cầu ông Trần Tấn Kh và bà Trần Thị S phịu án phí và các chi phí tố tụng phát sinh theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến nay Hội đồng xét xử, thẩm

phán, thư ký, đại diện của nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật.

Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa là không

chấp hành theo đúng quy định pháp luật, vi phạm Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

+ Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng

TMCP V, buộc ông Trần Tấn Kh và bà Trần Thị S có trách nhiệm trả cho ngân hàng số tiền gốc là 69.560.005 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã kí kết. Trường hợp ông Trần Tấn Kh và bà Trần Thị S không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

+ Ông Trần Tấn Kh và bà Trần Thị S phải chịu án phí và các chi phí tố

tụng khác theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở lời trình bày của đương sự cũng như qua các tài liệu chứng cứ

có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn

bản tố tụng cho ông Trần Tấn Kh và bà Trần Thị S nhưng ông Kh và bà S vắng mặt tại các buổi làm việc. Xét thấy nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của bị đơn theo địa chỉ được ghi trong hợp đồng. Bị đơn thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng mà không thông báo cho nguyên đơn biết về nơi cư trú mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 nên được coi là cố tình che giấu địa chỉ, Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

. Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có nơi cư trú thôn P, xã H, huyện

K, tỉnh Đắk Lắk nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Quan hệ tranh chấp: Ngân hàng TMCP V yêu cầu Tòa án buộc ông

Trần Tấn Kh và bà Trần Thị S phải trả khoản vay theo hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng TMCP V – chi nhánh tp. Hồ Chí Minh – phòng giao dịch Bình Thạnh với ông Kh và bà S, đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại khoản 3 điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về nội dung vụ án:

Về số nợ gốc: Căn cứ Hợp đồng cho vay kiêm Hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1803190563032 ngày 26/3/2018, ông Trần Tấn Kh và bà Trần Thị S có ký kết tại Ngân hàng TMCP V – chi nhánh tp. Hồ Chí Minh – phòng giao dịch B để vay số tiền 138.000.000 đồng (một trăm ba mươi tám triệu đồng), thỏa thuận lãi suất cố định trong 12 tháng đầu tại thời điểm giải ngân là 9,9%/năm, từ tháng 13 trở đi thay đổi định kỳ 3 tháng/lần, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn kể từ thời điểm chuyển nợ quá hạn, thời hạn vay 48 tháng, mục đích vay: vay mua ô tô.

Tại bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Lắk đã kết luận chữ ký, chữ viết của ông Trần Tấn Kh, bà Trần Thị S so với các mẫu giám định do cùng một người viết ra. Như vậy việc ông Trần Tấn Kh và bà Trần Thị S có ký kết hợp đồng và có nợ tiền Ngân hàng TMCP V là sự thật. Ông Trần Tấn Kh và bà Trần Thị S đã không trả nợ theo như cam kết đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi định kỳ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết và bỏ đi khỏi địa phương, không thông báo địa chỉ nơi ở mới nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.

Ông Kh và bà S đã trả được 68.439.995 đồng tiền gốc và 12.907.323 đồng tiền lãi, số tiền gốc còn nợ lại là 69.560.005 đồng. Toàn bộ khoản nợ gốc của ông Kh và bà S đã chuyển sang nợ quá hạn. Hiện nay ông Kh và bà S cố tình che giấu địa chỉ và trốn tránh nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng, Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông Kh và bà S phải trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ gốc là 69.560.005 đồng và nợ lãi phát sinh là 77.334.390 đồng, tính đến ngày 08/6/2023 là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật và sự thỏa thuận của các bên về lãi suất ký kết trong hợp đồng nên cần chấp nhận.

Ông Trần Tấn Kh và bà Trần Thị S còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay kiêm Hợp đồng thế chấp xe ô tô ngày 26/3/2018, kể từ sau ngày xét xử, ngày 09/6/2023 cho đến khi thanh toán xong hết khoản nợ gốc là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

Để đảm bảo cho khoản vay, ông Trần Tấn Kh và bà Trần Thị S đã thế chấp 01 xe ô tô tải nhãn hiệu KENBO, biển số 47C – 184.30, số khung 01BJHDA00126 là hoàn toàn tự nguyện, và giao dịch bảo đảm đã được đăng ký tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại tp Hồ Chí Minh vào ngày 26/3/2018 đúng quy định của pháp luật, có hiệu lực đối kháng với người thứ ba. Do đó, trường hợp ông Trần Tấn Kh và bà Trần Thị S không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu có quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là đúng quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

. Về án phí và chi phí giám định chữ ký, chữ viết: Bị đơn phải chịu án

phí dân sự sơ thẩm và chi phí giám định chữ ký, chữ viết do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26;Khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 144, Điều 147, Điều 157, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238 và Điều 241; Điều 266, Điều 267, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 299, Điều 463 Bộ luật dân sự; Điều 91, 95 Luật các tổ chức

tín dụng;

Áp dụng: khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V. Buộc ông Trần Tấn Kh và bà Trần Thị S có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền nợ là 146.894.395 đồng, tính đến ngày 08/6/2023. Trong đó nợ gốc là 69.560.005 đồng và nợ lãi là 77.334.390 đồng.

Kể từ ngày 09/6/2023, ông Trần Tấn Kh và bà Trần Thị S còn phải tiếp

tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay kiêm Hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1803190563032 ngày 26/3/2018, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Trường hợp, ông Trần Tấn Kh và bà Trần Thị S thanh toán đủ số tiền nêu

trên thì Ngân hàng TMCP V có trách nhiệm trả lại giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cho ông Kh và bà S.

Trường hợp ông Trần Tấn Kh và bà Trần Thị S không thực hiện hoặc

thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP V có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng cho vay kiêm Hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1803190563032 ký kết ngày 26/3/2018 để thu hồi nợ. Tài sản thế chấp là 01 xe ô tô tải nhãn hiệu KENBO, biển số 47C – 184.30, số khung 01BJHDA00126, được Công an tỉnh Đắk Lắk cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 039398 cho ông Trần Tấn Kh ngày 22/3/2018.

Trường hợp xử lý tài sản thế chấp không đủ thanh toán toàn bộ nợ vay thì

ông Trần Tấn Kh và bà Trần Thị S có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ cho đến khi thanh toán hết nợ vay.

2. Về chi phí giám định chữ ký, chữ viết: ông Trần Tấn Kh và bà Trần

Thị S phải chịu và có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP V tiền chi phí giám định là 4.320.000 đồng mà Ngân hàng đã nộp tại Tòa án (đã thu và đã chi phí xong).

3. Về án phí: ông Trần Tấn Kh và bà Trần Thị S phải chịu 3.672.000

đồng (đã làm tròn) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Trả lại cho Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là

2.926.000 đồng theo biên lai số AA/2021/0013080 ngày 05/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

3. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ

ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công Kh.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ