- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng N - Công ty T"
- Căn cứ chính? Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2022/KDTM-ST Ngày: 30/3/2022 V/v tranh chấp: “Hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG - TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Võ Tấn Thành
Các Hội thẩm nhân dân :
1. Ông Trần Quang Đông
2. Bà Dương Thị Phụng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Nương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 01/2022/TLST-KDTM, ngày 04 tháng 01 năm 2022, về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2022/QĐXXST-KDTM, ngày 01 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N
Trụ sở chính: Số M, Đường T, Phường L, Quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Phạm Quang D – Chức vụ: Chủ tịch Hội
đồng quản trị Ngân hàng N.
Người đại diện theo ủy quyền: Trần Công M – Chức vụ: Trưởng phòng
khách hàng Ngân hàng N – Chi nhánh Vĩnh Long, văn bản ủy quyền số:
02/UQ-VLO-HCNS, ngày 06/01/2022 (có mặt)
- Bị đơn: Công ty T.
Trụ sở: Quốc lộ T, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Thị U – Chức vụ: Chủ tịch -
Kiêm Giám đốc Công ty T. (vắng mặt)
- Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Nguyễn Nguyệt Tuyết N; địa chỉ số B, khóm T, Phường T, thành phố
S, tỉnh Đồng Tháp; (vắng mặt)
+ Đỗ Thanh H; địa chỉ số B, khóm T, Phường T, thành phố S, tỉnh
Đồng Tháp; (vắng mặt)
+ Nguyễn Võ Hoàng Thanh T; địa chỉ tại khóm B, Phường M, thành
phố S, tỉnh Đồng Tháp. (xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 31/8/2021 và đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 15/11/2021 của Ngân hàng N, cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng nhƣ tại phiên tòa sơ thẩm ông Trần Công M đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Do nhu cầu vay vốn của Công ty T (gọi tắt là công ty T), nên Ngân hàng N
- Chi nhánh Vĩnh Long (gọi tắt là Ngân hàng N) có thỏa thuận cho công ty T vay theo Hợp đồng cho vay theo hạn mức số: 335/HĐTD-VLO.KH, ngày 16/7/2020, hạn mức cho vay 2.500.000.000đ; mục đích sử dụng vốn vay là bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh; thời hạn duy trì hạn mức cho vay là 12 tháng.
Tổng số tiền Ngân hàng N đã giải ngân cho công ty T bằng 2.500.000.000đ (Hai tỷ năm trăm triệu đồng) theo Giấy nhận nợ số 02, ngày 28/10/2020.
Để đảm bảo khoản nợ vay trên, Ngân hàng có nhận thế chấp tài sản theo các Hợp đồng sau:
- Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 200/HĐTC-VLO.KH, ngày 16/7/2020. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất BQ 142862, thuộc thửa 109, tờ bản đồ số 11, diện tích 19,2m2, tọa lạc khóm B, Phường M, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, do ông Đỗ Thanh H đứng tên. Hợp đồng được chứng nhận tại Phòng Công chứng số 2 tỉnh Đồng Tháp, số 5534, ngày 16/7/2020 và đăng ký thế chấp ngày 17/7/2020 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
- Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 201/HĐTC-VLO.KH, ngày 16/7/2020. Tài sản thế chấp gồm quyền sử dụng đất số BE 061078, thuộc thửa 74, tờ bản đồ số 11, diện tích 44,8m2, tọa lạc khóm B, Phường M, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, do ông Đỗ Thanh H đứng tên. Hợp đồng được chứng nhận tại Phòng Công chứng số 2 tỉnh Đồng Tháp, số 5533, ngày 16/7/2020 và đăng ký thế chấp ngày 17/7/2020 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, công ty T đã thanh toán được một phần tiền gốc và lãi thì ngưng không thanh toán nữa; nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán nhưng bị đơn vẫn không thanh toán. Tính đến ngày 30/3/2022 công ty T còn nợ các khoản gồm tiền nợ gốc 1.403.020.000đ; tiền lãi trong hạn 120.655.000đ ; lãi quá hạn 55.681.000đ và lãi chậm trả 7.464.000đ. Tổng cộng bằng 1.586.820.000đ. Do công ty T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, cho nên ông M đại diện cho nguyên đơn yêu cầu công ty T phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền 1.586.820.000đ. Trường hợp công ty T không trả hoặc trả không đầy đủ thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho nguyên đơn; nguyên đơn được quyền tiếp tục tính lãi như thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong nợ gốc.
Bị đơn Công ty T và ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Nguyệt Tuyết N và ông Đỗ Thanh H đều không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo phát luật tố tụng: Qui trình nhận đơn, thu thập chứng cứ của Thẩm phán đúng trình tự thủ tục tố tụng; về thời hạn xét xử đảm bảo đúng thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; về Hội đồng xét xử thực hiện nguyên tắc xét xử đúng trình tự thủ tục tố tụng; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn được thực hiện nghiêm túc, còn bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thực hiện chưa nghiêm.
- Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng các Điều 30, 35, 39, 92, 147, 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 335, Điều 342 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95, Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn hoàn trả cho nguyên đơn số tiền vốn, lãi tổng cộng bằng 1.586.820.000đ. Trường hợp bị đơn không khả năng thanh toán thì nguyên đơn được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Buộc bị đơn chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét thấy nguyên và bị đơn đều là pháp nhân có đăng ký kinh doanh; việc ký kết hợp đồng đều nhằm mục đích lợi nhuận, ngoài ra, giữa nguyên và bị đơn có thỏa thuận Tòa án nơi Chi nhánh của nguyên đơn có trụ sở để giải quyết khi có tranh chấp. Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án dân sự, tranh chấp về kinh doanh thương mại “Hợp đồng tín dụng”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long đã triệu tập bà Nguyễn Thị U với tư cách là người đại diện theo pháp luật cho bị đơn là Công ty T; bà Nguyễn Nguyệt Tuyết N và ông Đỗ Thanh H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan để tham dự phiên tòa lần thứ hai nhưng các đương sự vẫn vắng mặt, riêng bà Nguyễn Võ Hoàng Thanh T có đề nghị xét xử vắng mặt, cho nên, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Theo đơn khởi kiện ngày 31/8/2021 của nguyên đơn đã xác định bà Nguyễn Thị U tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, qua xem xét đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cho thấy bà U không có quyền và nghĩa vụ liên quan gì trong vụ án, nên Hội đồng xét xử không đưa bà U vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N, Hội đồng xét xử thấy: Căn cứ Hợp đồng cho vay theo hạn mức số: 335/HĐTD-VLO.KH, ngày 16/7/2020 giữa Ngân hàng N – Chi nhánh Vĩnh Long với Công ty T, xét về hình thức và nội dung phù hợp pháp luật, được các bên ký kết trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc, nên có giá trị thi hành đối với các bên tham gia giao dịch. Căn cứ vào các Giấy nhận nợ số 2 và Ủy nhiệm chi cùng ngày 28/10/2020 cho thấy công ty T có nhận số tiền 2.500.000.000đ của Ngân hàng N là có thật, tính đến ngày xét xử 30/3/2022, công ty T còn nợ gốc bằng 1.403.020.000đ và lãi 183.800.000đ. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng bị đơn không có ý kiến phản đối. Căn cứ khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử khẳng định công ty T còn nợ Ngân hàng N số tiền gốc, lãi bằng 1.586.820.000đ. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng mặc dù nguyên đơn đã thông báo nhắc nhở nhiều lần để trả nợ nhưng bị đơn vẫn không trả tiền gốc, lãi đúng như thỏa thuận trong hợp đồng là vi phạm nghĩa vụ thanh toán, cho nên, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn hoàn trả tiền gốc, lãi là có cơ sở chấp nhận, phù hợp khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.
Xét việc nguyên đơn yêu cầu xử lý tài sản thế chấp, Hội đồng xét xử thấy, các Hợp đồng thế chấp số: 200/HĐTC-VLO.KH, ngày 16/7/2020 và số: 201/HĐTC-VLO.KH, ngày 16/7/2020 đã được các bên ký kết trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc, không trái pháp luật hay đạo đức xã hội và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự; xét về mặt hình thức thì các Hợp đồng thế chấp đã được chứng nhận của Phòng công chứng và có đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền là phù hợp với khoản 3 Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013 và Điều 119 của Bộ luật Dân sự, cho nên, các Hợp đồng thế chấp là hoàn toàn hợp pháp. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử công nhận tình tiết này là sự thật. Do đó, nguyên đơn yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là có cơ sở chấp nhận, phù hợp với khoản 7 Điều 323 của Bộ luật Dân sự, như vậy, đến thời điểm thanh toán mà bị đơn không khả năng thanh toán thì tài sản thế chấp của bị đơn được xử lý theo phương thức do các bên thỏa thuận hoặc nguyên đơn được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định pháp luật để thu hồi nợ.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long là có cơ sở, phù hợp pháp luật.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ bằng 4.000.000đ (Bốn triệu đồng). Do chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí này theo quy định tại Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, nguyên đơn đã nộp tạm ứng đủ, do đó, bị đơn phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho nguyên đơn.
Về án phí: Do chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm bằng 59.605.000đ theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng; khoản 7 Điều 323 của Bộ luật Dân sự; và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về nội dung
1.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.
Buộc Công ty T có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng N các khoản tiền gồm:
- Tiền gốc: 1.403.020.000đ (Một tỷ bốn trăm lẻ ba triệu không trăm hai mươi ngàn đồng).
- Tiền lãi: 183.800.000đ (Một trăm tám mươi ba triệu tám trăm ngàn đồng)
Tổng cộng làm tròn bằng: 1.586.820.000đ (Một tỷ năm trăm tám mươi sáu triệu tám trăm hai mươi ngàn đồng). Thời hạn thanh toán khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp Công ty T không thanh toán hoặc thanh toán chưa hết nợ thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo các Hợp đồng sau:
- Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 200/HĐTC-VLO.KH, ngày 16/7/2020, được chứng nhận tại Phòng Công chứng số 2 tỉnh Đồng Tháp, số 5534, ngày 16/7/2020 và đăng ký thế chấp ngày 17/7/2020 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
- Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 201/HĐTC-VLO.KH, ngày 16/7/2020, được chứng nhận tại Phòng Công chứng số 2 tỉnh Đồng Tháp, số 5533, ngày 16/7/2020 và đăng ký thế chấp ngày 17/7/2020 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
2. Về án phí và chi phí tố tụng khác
2.1. Về án phí
Buộc Công ty T chịu án phí dân sự sơ thẩm tranh chấp về kinh doanh thương mại có giá ngạch bằng 59.605.000đ (Năm mươi chín triệu sáu trăm lẻ năm ngàn đồng).
Ngân hàng N được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 28.283.000đ (Hai mươi tám triệu hai trăm tám mươi ba ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000895, ngày 14/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long.
2.2. Về chi phí tố tụng khác
Buộc Công ty T nộp chi phí xem xét thẩm định tại chỗ bằng 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) để hoàn trả lại cho Ngân hàng N.
3. Nghĩa vụ thi hành án
3.1. Về nghĩa vụ chậm thi hành án
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (30/3/2022), khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay theo hạn mức số: 335/HĐTD-VLO.KH, ngày 16/7/2020 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này (trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay).
3.2. Về hướng dẫn thi hành án dân sự:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
4. Báo cho các đương sự có mặt biết, được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh VL; - VKSND TPVL; - Thi hành án TPVL; - Các đ/s; - Lưu: VT,… | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Võ Tấn Thành |