vanban.org

Bản án 04/2022/HSST — Hình sự

TAND Q. Sơn Trà, TP Đà Nẵng Tuyên án 20/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Thị Kim N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Đinh Thị Kim N 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 20/01/2022. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Nếu bị cáo thay đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đinh Thị Kim N phạm tội “Cố ý gây thương tích”. - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 13…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đinh Thị Kim N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
—————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2022/HSST
Ngày: 20-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ-TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Thy Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Đời

Ông Hà Đồng Tịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mỹ Thương- Là thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà tham gia phiên tòa: Ông Hà Hoàng Đạt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, Tp. Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 114/2021/TLST- HS ngày 23 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2022/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Đinh Thị Kim N; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1993 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT: Tổ 37 phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. Chổ ở hiện nay: Số 138 đường L, phường N, quận S, Tp Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Văn L và bà Đinh Thị H; Bị cáo có chồng tên Trang Tấn T và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2018;

Tiền án, tiền sự: Chưa;

Bị cáo hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Nguyễn Huỳnh Thị Thu Q. Sinh năm: 1991. Nơi cư trú: Số 142/26 đường L, phường M, quận S, TP Đà Nẵng. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trang Tấn T, Sinh năm: 1988. Nơi cư trú: Số 138 đường L, phường N, quận S, Tp Đà Nẵng. Có mặt.

- Người làm chứng: Bà Võ Thị Kim A, Sinh năm: 1990. Nơi cư trú: Số 69 đường L, phường M, quận S, Tp Đà Nẵng. Có đơn xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 17/6/2021, ông Trang Tấn T sử dụng xe mô tô Liberty BKS 43C1-030.19 chở bị cáo đi mua đồ tại chợ Mân Thái, quận Sơn Trà. Khoảng 10 giờ 30 phút, sau khi mua đồ trong chợ xong, bị cáo đi ra khu vực cổng chợ thì nhìn thấy bà Nguyễn Huỳnh Thị Thu Q. Do có mâu thuẫn ghen tuông (bị cáo nghi ngờ bà Q và ông T có quan hệ bất chính vào thời gian trước), bị cáo đi vào một cửa hàng bán cá (không xác định) trong chợ lấy 01 cây kéo làm cá (cán bằng nhựa, lưỡi bằng kim loại, kéo dài khoảng 20cm) cất vào túi xách đang đeo với mục đích sẽ cắt tóc của bà Q. Sau đó, bị cáo chạy đến chỗ bà Q đang đứng, dùng tay nắm lấy áo, lôi bà Q đến trước cửa hàng tạp hóa Kim chỉ tay vào ông T là chồng của bị cáo rồi hỏi: “Có biết người này là ai không”. Bà Q trả lời là “không” thì bị bị cáo dùng tay đè đầu bà Q xuống, tát nhiều lần vào mặt bà Q. Thấy vậy, ông T xông vào can ngăn, đẩy bị cáo ra. Bà Q vùng dậy, nhặt 01 đĩa cân bằng nhôm ở gần đó đánh vào người bị cáo. Do bực tức, bị cáo lấy 01 cây kéo từ trong túi xách ra đâm về phía bà Q, bà Q đưa tay lên đỡ thì bị đâm vào tay gây xây xát, chảy máu. Sau đó, bị cáo và bà Q xông vào giằng co nhau. Quá trình giằng co, bị cáo dùng kéo quơ qua quơ lại trúng vào vùng đầu làm bà Q bị rách da đầu, chảy máu. Ông T can ngăn rồi sử dụng xe mô tô Liberty BKS 43C1-030.19 chở bị cáo về, bà Q tiếp tục đuổi theo nhưng bị mọi người ngăn lại. Lúc này bà Q mới biết mình bị chảy máu đầu và nhờ người dân chở đến Công an phường Mân Thái trình báo, được cán bộ Công an phường đưa đi cấp cứu.

* Vật chứng tạm giữ: 01 xe mô tô Liberty BKS 43C1-030.19 (Đã trả lại cho ông Trang Tấn T)

* Ngày 17/6/2021, Công an phường Mân Thái tiến hành truy tìm 01 cây kéo (bị cáo khai vứt tại thùng rác tại khu vực ngã ba K96 Lê Văn Thứ - Phùng Tá Chu, phường Mân Thái) nhưng không thu thập được. Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà đã cho bị cáo vẽ, mô tả lại đặc điểm cây kéo như sau: Cây kéo dài 20cm, cán kéo bằng nhựa màu vàng, lưỡi kéo bằng kim loại.

Ngày 21/6/2021, bà Nguyễn Huỳnh Thị Thu Q có đơn yêu cầu khởi tố vụ án, yêu cầu giám định thương tích.

* Tại Bản kết luận giám định số 144/TgT ngày 27/7/2021 của Trung tâm pháp y – Sở y tế thành phố Đà Nẵng đối với bà Nguyễn Huỳnh Thị Thu Q kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Chấn động não đã điều trị. Hiện tại nạn nhân tỉnh, tiếp xúc được, 12 đôi dây thần kinh sọ não không phát hiện bất thường, không yếu liệt chi. Điện não kiểm tra: Sóng điện não trong giới hạn bình thường.

- Vùng chẩm lệch trái có vết thương đã lành tạo sẹo, bờ mép không đều, kích thước 0,8cm x 0,2cm. (H1)

- Vùng giữa chẩm có vết thương đã lành tạo sẹo, bờ mép không đều, kích thước 0,8cm x 0,3cm. (H2)

- Mặt mu bàn tay trái, ở vị trí khớp liên đốt bàn ngón III có vết thương đã lành tạo sẹo, lồi nhẹ, bờ mép không đều, kích thước 1,5cm x 0,3cm. (H3)

- Mặt sau 1/3 giữa cẳng tay trái có vết thương đã lành tạo sẹo, kích thước 0,5cm x 0,2cm. (H4)

- Mặt mu đốt 1 ngón IV bàn tay trái có hai vết rách da, đã lành tạo sẹo, kích thước lần lượt là 0,3cm x 0,1cm và 0,2cm x 0,1cm. (Hồ sơ bệnh án không ghi nhận nhưng nạn nhân khai xảy ra trong vụ việc) (H5)

2. Tỷ lệ thương tích:

- Chấn động não đã điều trị ổn định. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01%.

- Các tổn thương H1, H2, H3 và H4 đã lành tạo sẹo. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 04%.

- 02 vết thương đã lành tạo sẹo ở mặt mu đốt 1 ngón IV bàn tay trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 02%.

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của các thương tích trên hiện tại là 07%.

* Về dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tiền thuốc men, viện phí với số tiền 1.639.894 đồng. Bị cáo đã nộp tiền khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền 1.000.000đồng theo phiếu thu số 01025 ngày 11/01/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà.

Tại bản cáo trạng số: 03/CT- VKS-ST ngày 22/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Đinh Thị Kim N về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm a Khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Qua xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa:

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên tòa phát biểu giữ nguyên cáo trạng đã truy tố bị cáo và căn cứ vào tính chất, hành vi thực hiện tội phạm, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Đinh Thị Kim N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của BLHS xử phạt bị cáo Đinh Thị Kim N từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự tuyên Buộc bị cáo Đinh Thị Kim N phải bồi thường cho bị hại số tiền 1.639.894 đồng.

Tiếp tục quy trữ số tiền 1.000.000đồng mà bị cáo đã nộp tại biên lai số 01025 ngày 11/01/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà để đảm bảo việc thi hành án

Bị cáo Đinh Thị Kim N thừa nhận hành vi phạm tội của mình là do mâu thuẫn ghen tuông, bị cáo dùng tay đánh vào người bị hại, cầm 01 cây kéo (loại kéo làm cá, cán bằng nhựa, lưỡi bằng kim loại, kéo dài khoảng 20cm) đâm gây rách da bàn tay, cẳng tay trái, rồi quơ trúng đầu bị hại gây rách da đầu với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 07%. Ngày 11/01/2022 bị cáo đã nộp 1.000.000đồng để bồi thường thiệt hại cho bị hại theo phiếu thu số số 01025 ngày 11/01/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Sơn Trà khởi tố, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà truy tố, Tòa án nhân dân quận Sơn Trà xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm a Khoản 1 Điều 134 của BLHS thì bị cáo không có ý kiến gì. Bị cáo thực sự ăn năn, hối cải, mong HĐXX xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại bà Nguyễn Huỳnh Thị Thu Q trình bày: Do bị cáo có nghi ngờ ghen tuông giữa bà và chồng của bị cáo có quan hệ bất chính trước đó nên ngày 17/6/2021 bị cáo có hành vi dùng tay cầm 01 cây kéo (loại kéo làm cá, cán bằng nhựa, lưỡi bằng kim loại, kéo dài khoảng 20cm) đâm gây rách da bàn tay, cẳng tay trái, rồi quơ trúng đầu bà gây rách da đầu với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 07%. Bà đã điều trị tiền thuốc men, viện phí với số tiền1.639.894 đồng nhưng bị cáo chưa bồi thường cho bà đồng nào cả. Tại phiên tòa bà có yêu cầu bị cáo bồi thường tiền thuốc men, viện phí với số tiền 1.639.894 đồng và đề nghị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án ông Trang Tấn T trình bày: Cách đây nhiều năm giữa ông và bà Q có mối quan hệ bất chính nên bị cáo có biết và nghen tuông. Hiện nay giữa ông và bà Q không còn quan hệ gì cả. Vào ngày 17/6/2021 bị cáo gặp bà Q tại chợ Mân Thái, hai bên có gây gỗ đánh nhau. Thấy vậy ông vào can ngăn, lúc này bà Q cầm một cái đĩa cân đánh vào người bị cáo. Sau đó bị cáo lấy một cái kéo từ trong túi xách ra đâm vè phía bà Q, bà Q đưa tay lên đỡ thì bị đâm vào tay và đầu gây xây xát, chảy máu. Do sự việc diễn ra quá nhanh nên ông không kịp can ngăn. Sự việc trên cũng do lỗi một phần ở nơi ông và bà Q có quan hệ bất chính nên vợ ông ghen tuông, xử sự không đúng nên vi phạm pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Sơn Trà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, xét lời khai nhận tội của bị cáo thấy phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu điều tra thu thập đầy đủ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: Do có mâu thuẩn nghen tuông vào ngày 17/6/2021 khi gặp bị hại ở chợ Mân Thái, bị cáo đã dùng tay đánh vào người bị hại. Khi được mọi người can ngăn bị hại có dùng 01 đĩa cân đánh vào người bị cáo, do bực tức bị cáo dùng hung khí nguy hiểm là 01 cái kéo đâm vào người gây rách da bàn tay, cẳng tay trái và quơ trúng đầu bị hại gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 07%. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng truy tố bị cáo theo Điểm a Khoản 1 Điều 134 của BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, thực hiện với lỗi cố ý, bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm đến trật tự trị an của xã hội, gây tâm lý bất ổn trong quần chúng nhân dân. Tuy nhiên cũng cần xem xét áp dụng các tình tiết quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt do bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại, bị cáo lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù mà căn cứ Điều 65 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho UBND nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường tiền thuốc men, tiền viện phí với số tiền tiền 1.639.894 đồng. Bị cáo đã nộp số tiền 1.000.000đồng để bồi thường một phần thiêt hại đã gây ra cho bị hại. Hội đồng xét xử thấy yêu cầu của bị hại là có căn cứ nên buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 639.894 đồng là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Sơn Trà đã trả lại 01 xe mô tô Liberty BKS 43C1-030.19 cho chủ sở hữu ông Trang Tấn T do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. HĐXX thấy phù hợp pháp luật nên không đề cập đến.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà về áp dụng điều luật, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về trách nhiệm dân sự là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Án phí HSST bị cáo Đinh Thị Kim N phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng). Án phí dân sự sơ thẩm bị cáo Đinh Thị Kim N phải chịu theo quy đinh của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Đinh Thị Kim N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 134; Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Đinh Thị Kim N 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 20/01/2022.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Về hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách của án treo: Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự tuyên:

Buộc bị cáo Đinh Thị Kim N phải bồi thường tiền thuốc men, điều trị thương tích cho bị hại với số tiền 1.639.894 đồng, sau khi trừ khi số tiền bị cáo đã nộp 1.000.000đồng. Số tiền còn lại bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bị hại 639.894 đồng.

Tiếp tục quy trữ số tiền 1.000.000đồng do bị cáo Đinh Thị Kim N nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà theo phiếu thu số số 01025 ngày 11/01/2022 để đảm bảo việc thi hành án.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí HSST bị cáo Đinh Thị Kim N phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Án phí DSST bị cáo Đinh Thị Kim N phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Báo cho những người tham gia tố tụng biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ