vanban.org

Bản án 04/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 21/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/- Tuyên bố bị cáo Tô Ngọc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”

2/- Áp d ng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Tô Ngọc D 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị baét đi thi hành án. 3/- Áp d ng các Điều 586; Điều 589 Bộ luật dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự bị cáo Tô Ngọc Diễm phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật…"
  • Tòa quyết gì? 1/- Tuyên bố bị cáo Tô Ngọc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOÀ BÌNH
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:04/2022/HSST
Ngày: 21/01/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Xuyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Huỳnh Tài Em

2/ Ông Trần Minh Đức

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dư, thư ký Toà án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu: Ông Trần Hồng Thái– Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 21 tháng 01 năm 2022, tại tr s Toà án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số 63/2021/TLST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 02/2022/QĐXXST –HS ngày 06 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Tô Ngọc D, sinh năm 1973, tại thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Nơi cư trú tại: Số A, đường Cao V, khóm H, phường Y, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Không. Trình độ văn hóa: 4/12. Dân tộc: kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Ngọc L và bà Võ Thị G; có chồng, 04 con (lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2000); tiền án: 01 lần, c thể: Ngày 15/5/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 04 (bốn) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 03/11/2020, chưa được xóa án tích;

Tiền sự: không.

Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/9/2021 cho đến nay. (Bị cáo có m t).

- Bị hại: Chị Nguyễn Thùy T, sinh năm 1988 (có m t)

Địa chỉ: Ấp K, xã Vĩnh M, huyện Hòa B, tỉnh Bạc Liêu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Tô Ngọc D đã có một tiền án về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích nhưng vào ngày 24/7/2021, tại ấp K, xã Vĩnh M, huyện Hòa B, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Nguyễn Thùy T 04 cây thuốc lá nhãn hiệu SEVEN DIAMONS, 02 cây thuốc lá nhãn hiệu BASTOS, 02 cây thuốc lá nhãn hiệu DONA. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 704.000 đồng (Bảy trăm lẻ bốn nghìn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKSHB ngày 20/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu đã truy tố bị cáo Tô Ngọc D về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Tô Ngọc D về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Đề nghị:

- Áp d ng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Tô Ngọc D từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Tô Ngọc D, buộc bị cáo Tô Ngọc D có trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thùy T số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

Tại Tòa, bị cáo Tô Ngọc D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trong quá trình tiến hành tố t ng: Về hành vi, quyết định tố t ng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại trong v án không có người nào có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo Tô Ngọc D trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ s kết luận:

Bị cáo Tô Ngọc D đã có một tiền án về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích nhưng vào khoảng 07 giờ, ngày 24/7/2021 bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 94K1-718.72 (do Tô Ngọc Q cho bị cáo mượn để đi lại) đi từ nhà của bị cáo khóm H, phường Y, thành phố B đến tiệm tạp hóa của chị Nguyễn Thùy T thuộc ấp K, xã Vĩnh M, huyện Hòa B, tỉnh Bạc Liêu để mua thuốc lá, trong lúc lựa thuốc lá thì D nhìn thấy chị T sơ h , không chú ý nên đã lấy trộm 04 cây thuốc lá (02 cây hiệu SEVEN DIAMONS, 01 cây hiệu BASTOS, 01 cây hiệu DONA) bỏ vào trong áo khoát, sau đó giả vờ ra xe m cốp xe cất giấu, đến khoảng 17 giờ cùng ngày, D tiếp t c quay lại tiệm tạp hóa của chị T, sử d ng thủ đoạn tương tự lấy trộm 04 cây thuốc lá (02 cây hiệu SEVEN DIAMONS, 01 cây hiệu BASTOS, 01 cây hiệu DONA), trong lúc D ra xe m cốp xe định cất giấu thì bị chị T phát hiện, bắt quả tang trình báo công an xã Vĩnh M. Quá trình bắt quả tang tạm giữ 04 cây thuốc lá (02 cây nhãn hiệu SEVEN DIAMONS, 01 cây hiệu BASTOS, 01 cây hiệu DONA), 01 xe gắn máy nhãn hiệu Visson, màu trắng, BKS 94K1-718.72, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobistar màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02S, màu xanh dương, ốp lưng bên ngoài màu trắng, hồng xanh, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu bạc, ốp lưng màu trắng (Bút lục 21-49; 68-91).

Tại Kết luận định giá số 68/KL-HĐĐGTS, ngày 21 tháng 9 năm 2021, của Hội đồng định giá trong tố t ng hình sự huyện Hòa Bình kết luận: 04 cây thuốc lá hiệu SEVEN DIAMONS trị giá 420.000 đồng, 02 cây thuốc lá nhãn hiệu BASTOS, trị giá 148.000 đồng, 02 cây thuốc lá nhãn hiệu DONA trị giá 136.000 đồng, tổng giá trị tài sản là 704.000 đồng (Bút lục 32).

Xét lời khai nhận của bị cáo Tô Ngọc D tại tòa phù hợp với tất cả các lời khai khác của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ v án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Tô Ngọc D đã có một tiền án về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích nhưng vào ngày 24/7/2021, tại ấp K, xã Vĩnh M, huyện Hòa B, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Nguyễn Thùy T 04 cây thuốc lá nhãn hiệu SEVEN DIAMONS, 02 cây thuốc lá nhãn hiệu BASTOS, 02 cây thuốc lá nhãn hiệu DONA. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 704.000 đồng (Bảy trăm lẻ bốn nghìn đồng). Vì vậy, hành vi của bị cáo Tô Ngọc D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, việc truy tố, xét xử bị cáo Tô Ngọc D theo tội danh và điều luật trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Khi thöïc hieän haønh vi phaïm toäi bò caùo Tô Ngọc D có ñaày đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm tội với l i cố ý trực tiếp. Bị cáo Tô Ngọc D đã lợi d ng sự sơ h trong việc quản lý tài sản của bị hại ñeå chieám ñoaït. Haønh vi phaïm toäi cuûa bò caùo khoâng nhöõng xaâm haïi ñeán taøi saûn cuûa chuû sôû höõu maø coøn laøm maát an ninh traät töï taïi ñòa phöông noùi rieâng, cho toaøn xaõ hoäi noùi chung và hiện nay loại tội phạm này có chiều hướng ngày càng tăng, gây hoang mang bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần thiết phải áp d ng hình phạt cách ly bị cáo khỏi sinh hoạt xã hội một thời gian nhất định nhằm để cải tạo, giáo d c bị cáo chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật và tr thành người công dân tốt có ích cho xã hội cũng như ph c v cho công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm chung trong xã hội.

Tuy nhiên, khi xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo Tô Ngọc D, Hội đồng xét xử cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp d ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Tô Ngọc D theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Trước khi m phiên tòa, bị cáo Tô Ngọc D, bị hại – chị Nguyễn Thùy T thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại và đề nghị Tòa án ghi nhận việc bồi thường thiệt hại này, c thể: Bị hại- chị Nguyễn Thùy T yêu cầu bị cáo Tô Ngọc D bồi thường số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), bị cáo D đồng ý bồi thường số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) theo yêu cầu của bị hại. Xét thấy, việc bị cáo D đồng ý bồi thường cho bị hại - chị Nguyễn Thùy T số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) là ý chí tự nguyện của bị cáo, nên Hội đồng xét xử cần ghi nhận, vì vậy, buộc bị cáo Tô Ngọc D có trách nhiệm bồi thường cho bị hại - chị Nguyễn Thùy T số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả cho bị hại – chị Nguyễn Thùy T 02 cây thuốc lá nhãn hiệu SEVEN DIAMONS, 01 cây thuốc lá nhãn hiệu BASTOS, 01 cây thuốc lá nhãn hiệu DONA; đã giao trả lại cho chủ s hữu Tô Ngọc Q 01 xe gắn máy nhãn hiệu Visson, màu trắng, BKS 94K1-718.72; trả cho bị cáo Tô Ngọc D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobistar màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02S, màu xanh dương, ốp lưng màu trắng, hồng xanh, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu bạc, ốp lưng màu trắng. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đ t ra xem xét.

Ngoài lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nêu trên, bị cáo Tô Ngọc D còn khai nhận nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp thuốc lá khác của chị Nguyễn Thùy T, do không xác định được loại, số lượng c thể; ngoài lời khai của bị cáo D, không có chứng cứ nào khác chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, do đó không đủ căn cứ để xử lý.

Đối với Tô Ngọc Q không biết việc Tô Ngọc D dùng xe máy biển kiểm sát 94K1-718.72 vào việc phạm tội, nên Hội đồng xét xử không đ t ra xem xét.

Từ những nhận định trên, đối với đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ nên được chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Tô Ngọc D phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do trước khi m phiên tòa, bị cáo Tô Ngọc D, bị hại thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại và đề nghị Tòa án ghi nhận việc bồi thường thiệt hại, nên căn cứ theo quy định tại điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo Tô Ngọc D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/- Tuyên bố bị cáo Tô Ngọc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”

2/- Áp d ng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Tô Ngọc D 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị baét đi thi hành án.

3/- Áp d ng các Điều 586; Điều 589 Bộ luật dân sự:

Buộc bị cáo Tô Ngọc D có trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thùy T số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả lãi trên số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4/- Về án phí: Áp d ng Điều 135,136 Bộ luật tố t ng hình sự; điểm a, điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Tô Ngọc D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Tô Ngọc D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai, bị cáo, bị hại có m t có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ