vanban.org

Bản án 04/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 13/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Đức N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Đỗ Đức N 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/9/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Đức N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Đức N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BÀ RỊA
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2022/HS-ST
Ngày: 13/01/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA,

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà : Bà Chu Thị Thanh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Công

2. Ông Trần Đình Khoa

- Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Hằng – Kiểm sát viên

Ngày 13 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 117/2021/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2021/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Đỗ Đức N, sinh năm 1989 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Đường C, tổ 9, Khu phố 2, phường T, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn L, sinh năm 1965 và Phạm Thị V, sinh năm 1968;

Tiền án: Năm 2019, bị Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 50/2019/HSST ngày 07/10/2019, chấp hành xong ngày 01/11/2020.

Tiền sự: Năm 2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 15 (mười lăm) tháng theo Quyết định số 40/QĐ-TA ngày 31/5/2021, chưa chấp hành.

Nhân thân:

- Năm 2008, bị Ủy ban nhân dân thị xã Bà Rịa áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc với thời gian 24 (hai mươi bốn) tháng theo Quyết định số 914/QĐ-UBND ngày 08/5/2008.

- Năm 2013, bị Ủy ban nhân dân thành phố Bà Rịa áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc với thời gian 24 (hai mươi bốn) tháng theo Quyết định số 1799/QĐ-UBND ngày 21/5/2013.

- Năm 2016, bị Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tuyên phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội “Bắt người trái pháp luật” và “Cưỡng đoạt tài sản” theo Bản án số 06/2016/HSST ngày 19/01/2016.

- Năm 2019, bị Công an phường Long Tâm xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định số 645/QĐ-XPVPHC ngày 13/3/2019, chưa đóng tiền phạt.

- Năm 2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 12 (mười hai) tháng theo Quyết định số 28/2019/QĐ-TA ngày 24/4/2019, chưa chấp hành.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/9/2021 đến ngày 10/9/2021 chuyển tạm giam (Bị cáo vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Bị hại:

1. Ông Đoàn Hồng Q, sinh năm 1991, địa chỉ: Tổ 2, khu phố 2, phường L, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1957, địa chỉ: Đường S, khu phố 5, phường T, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 45 phút ngày 04/09/2021, Đỗ Đức N cùng với một người phụ nữ tên Hà (không rõ nhân thân, lai lịch) đi bộ lang thang. Khi đến khu vực nhà anh Đoàn Hồng Q ở địa chỉ: tổ 2, khu phố 2, phường L, thành phố Bà Rịa, tỉnh BR-VT thì N nhìn thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu DAYANG, dạng Dream màu nâu, biển số 72K4-7479 dựng ngoài hiên có cắm sẵn chìa khóa, không có người trông coi nên N nảy sinh ý định trộm cắp. N đi vào dắt xe ra ngoài cổng, nổ máy, dự định điều khiển xe chở Hà chạy đi thì bị anh Quân phát hiện, đuổi theo. Anh Q dùng chân đạp đổ xe mô tô làm N và Hà ngã xuống đường. N và Hà xin lỗi anh Q thì được anh Q cho đi. N và Hà mỗi người đi một hướng khác nhau.

Sau khi trộm xe anh Q không thành, N đi bộ đến khu vực vòng xoay thu nhập thấp thuộc khu phố 5, phường Long Toàn, thành phố Bà Rịa thì phát hiện 01 xe mô tô hiệu ENJOY, màu đỏ - đen, biển số 72L7-8157 của ông Nguyễn Văn Đ dựng ở vỉa hè, cắm sẵn chìa khóa, không có người trông coi, N lấy xe, khỏi động máy chạy đi. N điều khiển xe đi về hướng xã Tam Phước, huyện Long Điền thì bị tổ Phòng chống dịch Covid huyện Long Điền giữ lại, chuyển giao cho Công an thành phố Bà Rịa xử lý. (BL80- 101).

Tại Kết luận định giá tài sản số 153/KL-HĐĐGTS ngày 21/09/2021 của Hội đồng định giá tài sản xác định:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu DAYANG, dạng Dream màu nâu, biển số 72K4-7479 có giá trị 4.666.666đ.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu ENJOY, màu đỏ - đen, biển số 72L7-8157 có giá trị 2.666.666đ.(BL 53-54).

Tại cơ quan điều tra, Đỗ Đức N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. (BL 151-167)

*Thu giữ và xử lý tang vật:

+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu DAYANG, dạng Dream màu nâu, biển số 72K4-XXXX, số khung 0014U330800, số máy 150FMG-80330800. Quá trình điều tra xác định ông Đinh Văn H, HKTT: khu phố 1, phường N, thành phố Bà Rịa đứng tên sở hữu. Năm 2015, ông Đoàn Hồng Q mua lại với giá 3.500.000đ, việc mua bán không làm giấy tờ. Ông Hồng hiện không còn ở địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú. Ngày 01/10/2021, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bà Rịa ra thông báo tìm người đối với anh Hồng nhưng hiện chưa có kết quả. Ngày 10/09/2021, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bà Rịa ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho ông Đoàn Hồng Q.

+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu ENJOY, màu đỏ - đen, biển số 72L7-YYYY, số khung AU12AD9D 100781, số máy VMKADA-D 100781. Quá trình điều tra xác định bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1986, địa chỉ: Phường 7, thành phố Vũng Tàu đứng tên sở hữu. Năm 2015, bà cho lại anh trai là ông Nguyễn Văn Đ. Ngày 10/09/2021, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bà Rịa ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho ông Nguyễn Văn Đ.

*Về phần dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, anh Đặng Hồng Q và ông Nguyễn Văn Đ không yêu cầu gì thêm.

Đối với người phụ nữ tên Hà do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.

Bản cáo trạng số 115/CT-VKS ngày 17/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa đã truy tố bị cáo Đỗ Đức N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Đức N mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị cáo, bị hại vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Xét thấy: Bị cáo giữ nguyên lời khai về hành vi phạm tội như trong các biên bản trước đó, không có yêu cầu người bào chữa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt có xác nhận của cơ quan nơi bị tạm giam; Bị hại không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo, bị hại theo quy định tại các điều 290, 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Căn cứ lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, đối chiếu lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra là thống nhất, hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:

Trong ngày 04/9/2021, lợi dụng sự chủ quan, lơi lỏng trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, Đỗ Đức N 02 (hai) lần có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản hợp pháp của người khác, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất, vào khoảng 08 giờ 45 phút, tại nhà ở địa chỉ Tổ 2, khu phố 2, phường Long Tâm, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Đỗ Đức N đã chiếm đoạt của anh Đoàn Hồng Q 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu DAYANG dạng Dream, biển số 72K4-XXXX có giá trị 4.666.666 (bốn triệu sáu trăm sáu mươi sáu ngàn sáu trăm sáu mươi sáu) đồng.

Lần thứ hai, vào khoảng 09 giờ 30 phút, tại khu vực vòng xoay thu nhập thấp thuộc khu phố 5, phường Long Toàn, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Đỗ Đức N tiếp tục chiếm đoạt của ông Nguyễn Văn Đ 01 (một) xe mô tô hiệu ENJOY, biển số 72L7-YYYY trị giá 2.666.666 (hai triệu sáu trăm sáu mươi sáu ngàn sáu trăm sáu mươi sáu) đồng.

Tổng giá trị N đã chiếm đoạt là 7.333.332 (bảy triệu ba trăm ba mươi ba ngàn ba trăm ba mươi hai) đồng.

Do đó, hành vi của bị cáo Đỗ Đức N đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân, pháp nhân được pháp luật bảo vệ; làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự địa phương. Bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu, từng nhiều lần bị xử phạt về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” (các năm 2008, 2013, 2019, 2021), thậm chí cũng đã từng bị xử lý hình sự về các tội danh liên quan đến sở hữu tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu chí làm ăn. Để có tiền tiêu xài cá nhân và sử dụng ma túy, chỉ trong thời gian ngắn sau khi chấp hành xong bản án trước, bị cáo lại tiếp tục phạm tội. Điều đó thể hiện thái độ bất chấp, ý thức coi thường pháp luật và sự chưa ăn năn hối cải của bị cáo. Vì thế cần có một mức án, hình phạt thật nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để bảo đảm tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 (hai) lần. Thời điểm phạm tội, bị cáo chưa được xóa án tích. Do đó, áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; tài sản bị trộm cắp đã thu hồi được và hoàn trả cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì thêm. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự trong quá trình xem xét, áp dụng hình phạt đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đã được xử lý xong. Trường hợp nếu chủ sở hữu có tranh chấp thì giành quyền khởi kiện và sẽ giải quyết trong vụ án dân sự khác.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Đức N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Đỗ Đức N 02 (hai) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 04/9/2021.

2. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ