- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn C - Vận chuyển trái phép chất ma túy - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn C (tên gọi khác: không) phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2022/HS-ST Ngày: 28-10-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Đoàn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sùng A Xà
Ông Lê Quang Nhuận
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Phượng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Hải, Kiểm sát viên. Ngày 28 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Phìn Hồ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai, lưu động vụ án hình sự thụ lý số: 08/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Hoàng Văn C (tên gọi khác: Không), sinh ngày 20/10/1994, tại xã Kim L, huyện Hạ L, tỉnh C B. Nơi cư trú: Xóm Bản Đ, xã Kim L, huyện Hạ L, tỉnh C B; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn S, sinh năm 1965 và con bà Nông Thị T, sinh năm 1966; Năm 2014 bị cáo chung sống như vợ chồng với chị Nông Thị H, sinh năm 1996 và có 01 con sinh năm 2015; tiền án: Không, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 05/05/2016 Hoàng Văn C bị Tòa án nhân dân huyện Hạ L, tỉnh C B xử phạt 03 năm tù về tội Cướp tài sản, buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền là 400.000 đồng. Ngày 15/7/2018, Hoàng Văn C chấp hành xong toàn bộ bản án (đã xóa án tích). Bị cáo chưa bị xử lý hành chính.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/5/2022, đến ngày 01/6/2022 bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn C: Bà Lê Thị T A, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 15 phút ngày 26/5/2022, tại Km 06+300, quốc lộ 279 thuộc địa phận bản Tà Cơn, xã Chiềng Sinh, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Tổ Công tác Công an tỉnh Điện Biên phối hợp với các lực lượng chức năng tiến hành kiểm tra xe ô tô khách biển kiểm soát số 27B-001.46 của nhà xe D N đi tuyến Điện B - Bắc G, quá trình kiểm tra phát hiện một đối tượng nam giới nằm tại giường tầng 2, số 35 có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật, kiểm tra đối tượng khai tên là Hoàng Văn C, sinh năm 1994, trú tại: xóm Bản Đ, xã Kim L, huyện Hạ L, tỉnh C B, kiểm tra khu vực Hoàng Văn C đang nằm, Tổ công tác phát hiện phía sau giường tầng 2, số 36 đối diện giường Hoàng Văn C đang nằm có 01 túi nilon màu xanh được quấn một lớp băng dính màu đen bên ngoài, khi mở ra thấy bên trong túi nilon màu xanh có 01 cục chất bột màu trắng, theo lời khai của Hoàng Văn C đó là ma túy Heroine của Hoàng Văn C đang trên đường vận chuyển về C B cho một người tên là Lương Văn H, trú tại xã Thị H, huyện Hạ L, tỉnh C B thì bị Tổ Công tác phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng là 01 gói Heroine có khối lượng 72,16 gam Heroine. Nguồn gốc số ma túy là do bị cáo nhận từ người có tên là D (do trước đó Lường Văn H đã cho C số điện thoại để liên lạc với D để nhận ma túy) tại khu vực Km 19 thuộc xã B L huyện M A tỉnh Đ B. Khi gặp D, D đã đưa cho C số ma túy đó và số tiền 2.000.000 đ (tiền công vận chuyển ma túy), sau đó C vận chuyển số ma túy đó về tỉnh C B giao cho H thì bị bắt giữ.
Tại Bản Kết luận giám định số 721/KL-KTHS ngày 31/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên kết luận:
- Khối lượng vật chứng thu giữ là 72,16 gam.
- Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine.
Tại Bản Kết luận giám định số 805/KL-KTHS ngày 16/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên kết luận: 17 tờ tiền mệnh giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) là tiền thật.
Bản Cáo trạng số 77/CT-VKS-P1 ngày 06/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố ra trước Toà án nhân dân tỉnh Điện Biên để xét xử Hoàng Văn C về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 250 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn C phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C từ 17 năm tù đến 18 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 250 của Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Văn C.
Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn C không tranh luận gì về tội danh và điều luật mà Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đồng thời không có khiếu nại gì về các quyết định , hành vi tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng; Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, trong quá trình điều tra truy tố xét xử bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, mặt khác bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế kho khăn, số ma túy đã kịp thời bị thu giữ chưa phát tán ra ngoài xã hội, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo cải tạo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Do điều kiện kinh tế của bị cáo còn gặp nhiều khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo Khoản 5 Điều 250 Bộ luật Hình sự và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên, đồng thời không có khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Thực hiện lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng và cải tạo thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Hoàng Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra được ghi nhận tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 20 giờ 15 phút ngày 26/5/2022, Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lẫy mẫu giám định và niêm phong lại đồ vật, tài liệu ngày 26/5/2022, phù hợp với lời khai của người chứng kiến (BL 128 - BL 142, BL 144 - BL 145) và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo Hoàng Văn C đã khai nhận: Ngày 14/5/2022, Hoàng Văn C đang tìm việc làm tại một khu công nghiệp thuộc địa phận xã Phương L, tỉnh B N thì nhận được điện thoại của Lương V H nhà ở bản Pác T, xã Việt C, huyện Hạ L, tỉnh C B gọi qua ứng dụng Wechat đặt vấn đề thuê C vận chuyển ma túy từ Đ B về C B cho H, H hứa sẽ trả tiền công nhưng chưa nói cụ thể là bao nhiêu. Do lúc đó không có tiền nên C bảo H gửi cho ít tiền đi đường và H đã gửi 01 triệu đồng vào một tài khoản do C nhờ từ một người phụ nữ ở khu trọ, nhưng C không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này.
Sau đó bị cáo đón xe khách từ B N lên Đ B, ngày 15/5/2022 C đến Km 19 xã B L, huyện Mường A, tỉnh Đ B thì xuống xe và gặp đối tượng tên là D (người mà H đã cho số điện thoại để C – D tự liên lạc với nhau) sau đó D và C trao đổi về việc vận chuyển ma túy. Ngày 19/5/2022 C nhận được điện thoại của H về việc lên Điện Biên gặp D để nhận ma túy, khi C lên tỉnh Điện Biên gặp D thì D bảo C quay về khi nào giao nhận ma túy sẽ bàn bạc cụ thể sau.
Đến ngày 25/5/2022, C tiếp tục nhận được điện thoại của H thông báo về việc lên Điện Biên nhận ma túy và dặn C xuống xe ở Km 19, xã B L, huyện Mường A rồi gọi điện cho H để H gọi người đến đón, thống nhất xong chiều cùng ngày C đón xe khách từ Bắc Ninh lên Điện Biên. Khoảng 05 giờ ngày 26/5/2022, C xuống xe và gọi điện cho H thông báo đã đến địa điểm H dặn. C đợi khoảng 40 phút sau thì có 01 người đàn ông điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha loại Sirius màu trắng, đen đến giới thiệu tên là D và là người quen của H rồi D chở C đi về phía thành phố Điện Biên Phủ khoảng 01 km, sau đó rẽ vào đường đi lên đồi được 01 km thì dừng lại ở một bụi cây ven đường, cùng nhau sử dụng Heroine. Khoảng 16 giờ cùng ngày, C được D đưa cho 01 cục Heroine gói bằng nilon màu xanh ngoài cùng quấn bằng băng dính màu đen và 02 triệu đồng tiền công, nhận được ma túy C đi bộ xuống đường đón xe khách biển kiểm soát 27B-001.46 của nhà xe D Ngà để về Bắc Ninh, khi lên xe C trả tiền xe hết 300.000 đồng xong C đi xuống ghế số 35 ở phía cuối xe đồng thời lấy gói Heroine cất giấu phía sau ghế số 36 cạnh với ghế của C. Khoảng 19 giờ 40 phút cùng ngày, khi xe khách chở C đến khu vực Km 06 + 300 Quốc lộ 279 thuộc địa phận bản Tà C, xã Chiềng S, huyện T G, tỉnh Điện Biên thì bị cơ quan chức năng phát hiện bắt giữ cùng vật chứng vụ án là 01 gói heroine có khối lượng 72,16 gam.
Hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Văn C là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ, mua bán, vận chuyển các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, nên cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Do đó, Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở kết luận hành vi đó của bị cáo Hoàng Văn C đã phạm vào tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 250 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi vận chuyển trái phép 72,16 gam Heroine của bị cáo Hoàng Văn C đã vi phạm tình tiết định khung được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 250 Bộ luật Hình sự.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo Hoàng Văn C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Sau khi bị bắt, bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ tính chất hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng. Ngoài lần phạm tội này, ngày 05/05/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Hạ L, tỉnh C B xử phạt 03 năm tù về tội Cướp tài sản, buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền là 400.000 đồng. Ngày 15/7/2018, Hoàng Văn C chấp hành xong toàn bộ bản án. Bị cáo nhận thức rất rõ việc pháp luật nghiêm cấm và xử phạt rất nghiêm khắc đối với các hành vi Vận chuyển trái phép chất ma túy nhưng vì muốn được hưởng lợi nên bị cáo đã cố tình vi phạm, khối lượng ma túy bị cáo tham gia vận chuyển là rất lớn (72,16 gam Heroine). Nhằm nghiêm trị những hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhất là tội phạm về ma túy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để tương xứng với tính chất, mức độ rất nghiêm trọng do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đồng thời cải tạo, giáo dục bị cáo, lấy đó làm bài học cảnh báo chung cho toàn xã hội, phục vụ cho công tác đấu tranh, ngăn ngừa, trấn áp loại tội phạm này trong tình hình hiện nay.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ cần chấp nhận, tuy nhiên mức hình phạt Hội đồng xét xử xem xét cần nhắc khi quyết định.
Đề nghị của những người bào chữa về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là có căn cứ nên được chấp nhận. Về hình phạt, người bào chữa và bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức thấp nhất của khung hình phạt là không có căn cứ để chấp nhận bởi bị cáo tham gia vận chuyển khối lượng ma túy rất lớn (72,16 gam Heroine). Ngoài lần phạm tội trên, ngày 05/05/2016 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Hạ L, tỉnh C B xử phạt 03 năm tù về tội Cướp tài sản, bị cáo đã chấp hành xong và đã được xóa án tích.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 250 của Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, nghề nghiệp của bị cáo là nông nghiệp, thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Vì vậy, đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa và người bào chữa cho bị cáo là có căn cứ để chấp nhận.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, phù hợp với các quy định của pháp luật.
Về vật chứng vụ án: Theo quy định tại khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, số vật chứng đã thu giữ của bị cáo cần xử lý như sau:
- Đối vật chứng là ma túy, sau khi trích mẫu gửi giám định còn lại: 69,54 gam Heroine, đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 chiếc điện thoại OPPO thu giữ của Hoàng Văn C là phương tiện bị cáo dùng để trao đổi về việc vận chuyển trái phép chất ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Đối với số tiền 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo, đây là tiền công bị cáo được hưởng lợi do hành vi phạm tội mà có nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Theo quy định tại các Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Hoàng Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, xét thấy, bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Căn cứ theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về các vấn đề khác:
Bị cáo Hoàng Văn C khai Lương V H ở bản Pác T, xã Việt C, huyện Hạ L, tỉnh C B là người thuê bị cáo vận chuyển ma túy từ Điện Biên về Cao Bằng. Kết quả xác minh tại khu vực trên không có ai tên Lương V H như bị cáo khai. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Đối với người giao ma túy, bị cáo chỉ biết tên là D, còn địa chỉ cụ thể ở đâu thì bị cáo không biết. Do đó, Cơ quan điều tra không có đủ cơ sở để điều tra xác minh làm rõ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 250 của Bộ luật Hình sự.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn C (tên gọi khác: không) phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C (tên gọi khác: không) 17 (mười bảy) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (26/5/2022).
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
* Tịch thu tiêu hủy: 69,54 gam Heroine là vật chứng còn lại sau giám định;
* Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
- 01 (một) gói niêm phong bằng phong bì công văn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên có kích thước khoảng 16cm x 23cm. Mặt trước phong bì có chữ: Mẫu vật hoàn lại kèm theo Kết luận giám định số 915/KL-KTHS ngày 30/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên: 01 (một) điện thoại OPPO.
- 01 (một) phong bì niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kích thước khoảng 16cm x 23cm. Mặt trước phong bì có chữ in nghiêng: Mẫu vật giám định tiền Việt Nam đồng vụ Hoàng Văn C, sinh năm: 1994, nơi thường trú: Xóm Bản Đ, xã Kim L, huyện Hạ L, tỉnh C B về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên ngày 07/10/2022).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Hoàng Văn C.
5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo Bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/10/2022).
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên; - Công an tỉnh Điện Biên (PC04); - Bị cáo; - Người bào chữa; - Trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên; - Phòng HSNV Công an tỉnh Điện Biên; - Cục THADS tỉnh Điện Biên; - Phòng HC Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TANDTC; - UBND xã Kim L, huyện Hạ L, tỉnh C B; - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Trọng Đoàn |