- Tranh chấp gì? án hình sự — "Leo Văn T phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Leo Văn T 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:04/2022/HS-ST Ngày 26-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Bà Nguyễn Thị Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Lý.
Bà Đinh Thị Thu Huyền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Linh Chi, Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên
Dũng, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên toà:
Ông Vũ Hồng Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Dũng,
tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2022/HSST ngày 05 tháng 01 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Leo Văn T, sinh năm 1993 tại huyện Lục N, tỉnh Bắc Giang; Nơi
cư trú: Thôn Hai C, xã Quý S, huyện Lục N, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Leo Văn T và bà Trịnh Thị H; Vợ, con: Chưa có;
-Tiền án: Ngày 07/5/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Lục N xử phạt 12 tháng tù về
tội Trộm cắp tài sản;
-Tiền sự: Không;
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 04/11/2021 đến nay. Hiện đang bị tạm
giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang (có mặt tại phiên Tòa).
- Bị hại: Chị Lý Thị T, sinh năm 1990, địa chỉ: Thôn Nhị L, xã Minh T,
huyện Hữu L, tỉnh Lạng Sơn.(vắng mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị T, sinh năm 1993;
địa chỉ: Hai C, xã Quý S, huyện Lục N, tỉnh Bắc Giang.(vắng mặt).
-Người làm chứng: Anh Phạm Quang H, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn Sơn
Quả 4, xã Lương P, huyện Hiệp H, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau: Tháng 10/2021, Leo Văn T, sinh năm 1993, trú tại thôn Hai C, xã Quý S, huyện Lục N, tỉnh Bắc Giang vào làm công nhân tại Công ty TNHH Luxshare ICT khu công nghiệp Vân Trung 2, thuộc địa phận thôn C, xã Nội H, huyện Yên D, tỉnh Bắc Giang. Ngày 02/11/2021, Thu đến Công ty làm ca đêm, đến khoảng 21 giờ cùng ngày, khi đang làm việc tại công ty thì T thấy trong người bị sốt do T mới được tiêm vaccine Covid-19, nên T xin nghỉ để đi đến bộ phận y tế của Công ty kiểm tra sức khỏe. Khi đi qua cửa từ, đến khu vực dãy tủ để đồ cá nhân ở tầng 3, xưởng D1 của Công ty, biết lúc này vắng người qua lại, trong tủ đồ cá nhân của công nhân có để tài sản, nên T nảy sinh ý định vào khu vực tủ đồ mở khoá để trộm cắp tài sản rồi đi vào khu vực tủ đồ của Công ty chọn tủ đồ có khoá nhỏ để dễ mở. Khi đến tủ đồ số 1446, đó là tủ đồ của chị Lý Thị T, sinh năm 1990, trú tại thôn Nhị L, xã Minh T, huyện Hữu L, tỉnh Lạng Sơn là công nhân của Công ty. Biết trong có tài sản, T dùng tay dò mật mã mở nhưng không mở được, nên dùng tay trái giữ khóa, tay phải giật mạnh thì khóa bật ra. Mở ra thấy trong có 01 túi xách da màu nâu, trong túi sách có 01 chiếc điện thoại di động, 2.500.000 đồng tiền Việt Nam và mấy tờ tiền ngoại tệ. T trộm cắp 2.500.000 đồng cất dấu vào túi quần bên trái rồi đóng cánh cửa tủ đồ lại đi đến bộ phận y tế để lấy thuốc hạ sốt. Toàn bộ số tiền trộm cắp được T đã dùng tiêu xài cá nhân hết.
Đối với chị T, sáng ngày 03/11/2021 hết giờ làm ca đêm, chị T đi ra lấy đồ ra
về thì phát hiện bị mất trộm 2.500.000 đồng nên đã làm đơn trình báo.
Sau khi nhận đơn trình báo, qua trích xuất dữ liệu camera của công ty thì
phát hiện Thu đã thực hiện hành vi trộm cắp tiền ở tủ đồ của chị T. Ngày 04/11/2021, biết hành vi trộm cắp của mình bị phát hiện đang bị điều tra, T ra đầu thú và giao nộp 2.500.000 đồng trả chị T, chị T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Tại cơ quan điều tra, bị can Leo Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành
vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Bản Cáo trạng số 04/CT -VKSYD ngày 30/12/2021 của Viện Kiểm sát
nhân dân huyện Yên D, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Leo Văn T về tội "Trộm cắp tài sản", quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo T khai nhận nội dung diễn biến sự việc như bản Cáo trạng nêu là
đúng, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, điều, khoản trên là đúng, không oan. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được
triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên D sau khi phân tích, đánh giá
các tình tiết, chứng cứ của vụ án vẫn giữ nguyên quyết định như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Leo Văn T từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 04/11/2021.
- Về án phí: Buộc bị cáo T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an
huyện Yên Dũng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay bị hại là chị Lý Thị T; người có quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan là chị Trần Thị T; người làm chứng là anh Phạm Quang H vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292, điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt họ.
. Xét về tội danh: Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm
tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 02/11/2021, tại Công ty TNHH Luxshare ICT, thuộc khu công nghiệp Vân Trung 2, thuộc địa phận thôn C, xã Nội H, huyện Yên D, tỉnh Bắc Giang, Leo Văn T có hành vi trộm cắp số tiền 2.500.000 đồng của chị Lý Thị T, sinh năm 1990, trú tại thôn Nhị L, xã Minh T, huyện Hữu L, tỉnh Lạng Sơn là công nhân của công ty. Cơ quan điều tra đã thu hồi được tài sản trả cho bị hại.
Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Leo Văn T phạm tội : “Trộm cắp
tài sản", theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 04/CT -VKSYD ngày 30/12/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang truy tố đối với Leo Văn T là đúng người, đúng tội.
. Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi
phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào quyền sở hữu đối với tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, cho công ty nơi bị cáo làm việc, gây tâm lý hoang mang cho người dân. Bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do vậy, cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội này.
. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn
năn hối cải; bị cáo đã khắc phục hậu quả ,sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T đã có tiền án nhưng
không lấy đó làm bài học, nay lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý trự tiếp nên phải chịu tình tiết tăng nặng là Tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân
thân của bị cáo, trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, bản thân bị cáo đã có tiền án nhưng không lấy đó làm bài học, nay lại tiếp tục phạm tội. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích choxã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Hiện nay bị cáo không có việc làm, thu nhập không
ổn định, không có tài sản riêng, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Chị Lý Thị T không có yêu cầu, đề nghị gì về
trách nhiệm dân sự đối với Leo Văn T nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Bị cáo tác động chị Trần Thị T trả lại tiền cho chị T, chị T tự nguyện không có yêu cầu gì về số tiền này đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự,
để Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h
khoản 1 Điều 52, Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2.Xử phạt: Bị cáo Leo Văn T 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Thời hạn tù
tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 04/11/2021.
3.Về án phí: Bị cáo Leo Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn
đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật. Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND huyện Yên Dũng;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND tỉnh Bắc Giang;
- Công an huyện Yên Dũng;
- TAND tỉnh Bắc Giang;
- Chi cục THADS huyện Yên Dũng;
- Bị cáo; -Những người tham gia tố tụng;
Nguyễn Thị Anh
- Lưu hồ sơ, văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN -CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Hải Lý Nguyễn Thị Tin
Nguyễn Thị Anh
| Nơi nhận: - VKSND huyện Yên Dũng; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Công an huyện Yên Dũng; - TAND tỉnh Bắc Giang; - Chi cục THADS huyện Yên Dũng; - Bị cáo; -Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Anh |