- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tạm giam bị cáo: Moong Văn L. Tên gọi khác: Không
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2022/HS-ST Ngày 12-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Văn Dương và bà Lô Thị Huyền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Nghĩa - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Võ Trọng Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 121/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2021 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 01/2022/TB-TA ngày 04 tháng 01 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lương Công H. Tên gọi khác: Không
Sinh ngày 18 tháng 12 năm 1980. Tại huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản C, xã X, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Khơ Mú; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lương Thảo P (đã mất) và con bà Cụt Thị C (đã mất). Vợ: Lương Thị X; Con: 02 con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Đảng viên đã đình chỉ sinh hoạt Đảng.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/8/2021 đến 22/8/2021. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Lương Văn M. Tên gọi khác: Không
Sinh ngày 09 tháng 3 năm 1992. Tại huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản C, xã X, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Khơ Mú; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lương Văn K, sinh năm 1962 và con bà Lương Thị C, sinh năm 1964. Vợ: Moong Y T; Con: 02 con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/8/2021 đến 22/8/2021. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Moong Văn L. Tên gọi khác: Không
Sinh ngày 17 tháng 7 năm 1995. Tại huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản P, xã N, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 0/12; Dân tộc: Khơ Mú; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Moong Bún Th, sinh năm 1952 và con bà Lương Thị M, sinh năm 1957. Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 28/4/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 01 năm 06 tháng. Ngày 16/5/2021 chấp hành xong; Nhân thân: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An từ ngày 13/8/2021 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Lương Công H và Lương Văn M: Bà Hoàng Thị Thu Hằng – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nghệ An. (Có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Moong Văn L: Bà Hoàng Thị Hà – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nghệ An. (Có mặt)
- Bị hại: Chị Lô Thị Xí L, sinh năm 1979. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Bản C, xã X, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh: Lương Văn T, sinh năm 1985. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Bản C, xã X, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
- Người làm chứng: Lô Văn T, Moong Văn N. (Vắng mặt)
- Người chứng kiến: Anh Lương Văn Thấn. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 08/08/2021, Lương Công H đi đến nhà của Lương Văn M ở Bản C, xã X, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An thì gặp Moong Văn L, H rủ M và L đi bắt ếch về làm mồi uống rượu. M và L đồng ý. Trước khi đi Lương Công H mang theo 01 (một) con dao và 01 (một) bao bì xác rắn, Lương Văn M mang theo 01 (một) con dao, 01 chiếc đèn pin, màu vàng, Moong Văn L mang theo 01 (một) chiếc đèn pin, màu đen. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, H điều khiển xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE biển kiểm soát 99B1-281.90 chở M và L đi lên đồi Pù Pon thuộc Bản C, xã X, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An để bắt ếch. Đến nơi, Lương Công H, Lương Văn M và Moong Văn L nhìn thấy 04 (bốn) con bò của gia đình chị Lô Thị Xí L, sinh năm 1979, trú tại Bản C, xã X, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An không có ai trông coi đang đứng ở bên đường, mép vực trong đó có một con bò đực màu vàng, khoảng 2,5 tháng tuổi, nặng khoảng 30kg. Lương Công H liền nói: “Mồi ở đây chi nữa làm thịt con bê về mà ăn” (ý H nói với M và L làm thịt con bò đưa về làm mồi nhậu) và nói L và M ở lại làm thịt, còn H đi về nhà lúc nào làm thịt bò xong sẽ quay lại đón. Nghe vậy, M và L đồng ý. H đưa cho L 01 (một) con dao và bao bì xác rắn rồi đi về nhà. Moong Văn L lấy một hòn đá đập vào đầu làm con bò rơi xuống dốc và chết. L và M kéo con bò vào trong khu vực khe Chon rồi dùng dao làm thịt con bò, L và M lấy phần thịt và lòng con bò cho vào bao xác rắn. Sau đó, H điều khiển xe máy quay lại rồi đưa thịt và lòng bò ra xe máy, chở M và L đi về nhà H để nấu ăn và uống rượu. Quá trình ăn uống có anh Lô Văn T, sinh năm 1985, trú tại Bản C, xã X, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An và anh Moong Văn N, sinh 1985, trú tại bản L, xã C, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An cùng tham gia ăn uống.
Ngày 11/8/2021, sau khi phát hiện bị mất trộm 01 (một) con bò đực, màu vàng, khoảng 2,5 tháng tuổi chị Lô Thị Xí L đã làm đơn trình báo Ban Công an xã X, huyện Tương Dương để giải quyết.
Sau khi nhận thức được hành vi phạm tội của mình ngày 12/8/2021, Lương Công H, Lương Văn M, Moong Văn L đã đến Công an xã X, huyện Tương Dương xin đầu thú, khai nhận sự việc và giao nộp vật chứng vụ án.
Ngày 13/8/2021, Ban Công an xã Nga My đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tương Dương giải quyết theo thẩm.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 99/KLĐG, ngày 18/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Tương Dương kết luận: 01 (một) con bò con (con bê) đực màu vàng, khoảng 2,5 tháng tuổi, nặng khoảng 30kg của chị Lô Thị Xí L có giá trị tại thời điểm bị mất trộm là: 6.500.000 (Sáu triệu năm trăm nghìn) đồng.
Bản cáo trạng số 127/CT-VKS-TD ngày 10 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đã truy tố Lương Công H, Lương Văn M, Moong Văn L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: Lương Công H mức án 09 – 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 – 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: Lương Văn M mức án 06 – 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 – 16 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: Moong Văn L mức án 06 – 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
Về dân sự: Miễn xét.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho các bị cáo theo đúng quy định của pháp luật;
Về vật chứng: Xử lý theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Lương Công H, Lương Văn M không có ý kiến gì tranh luận về điều khoản, tội danh mà Viện kiểm sát truy tố nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến trình độ nhận thức pháp luật của các bị cáo đang còn hạn chế, gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, lại cư trú ở vùng sâu, vùng xa để lên mức hình phạt cho bị cáo Lương Công H 07 – 09 tháng tù cho hưởng án treo và bị cáo Lương Văn M 06 tháng tù cho hưởng án treo theo lời đề nghị của kiểm sát viên và miễn hình phạt bổ sung, án phí đối với các bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Moong Văn L không có ý kiến gì tranh luận về điều khoản, tội danh mà Viện kiểm sát truy tố nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến trình độ nhận thức pháp luật của bị cáo đang còn hạn chế, gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, lại cư trú ở vùng sâu, vùng xa để lên mức hình phạt thấp nhất theo lời đề nghị của kiểm sát viên và miễn hình phạt bổ sung, án phí đối với bị cáo.
Các bị cáo Lương Công H, Lương Văn M, Moong Văn L đồng ý với quan điểm truy tố của Kiểm sát viên, không có ý kiến, không tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công An huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 20 giờ, ngày 08/08/2021, tại Bản C, xã X, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An, Lương Công H, Lương Văn M, Moong Văn L đã có hành vi trộm cắp 01 (một) con bò con (con bê) đực, màu vàng, khoảng 2,5 tháng tuổi, nặng khoảng 30 kg của chị Lô Thị Xí La có giá trị tại thời điểm mất trộm là: 6.500.000 (sáu triệu năm trăm nghìn) đồng. Như vậy hành vi của các bị cáo Lương Công H, Lương Văn M, Moong Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Chính vì vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đã truy tố các bị cáo Lương Công H, Lương Văn M, Moong Văn L theo tội danh và Điều luật, viện dẫn ở trên là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
Đây là vụ án ít nghiêm trọng bởi hành vi phạm tội của các bị cáo phạm vào khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự, điều luật có khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Các bị cáo là người có đủ năng lực pháp luật để chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, làm mất trật tự trị an trên địa bàn. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Đây là vụ án có nhiều người tham gia thực hiện tội phạm với tính chất đồng phạm giản đơn nên cần phân hóa vai trò của từng người để áp dụng hình phạt phù hợp.
Lương Công H là người khởi xướng hành vi trộm cắp tài sản và là người phân công Lương Văn M, Moong Văn L làm thịt bê nên cần xem xét áp dụng hình phạt đối với H cao hơn M và L như trong khoảng đề nghị của kiểm sát viên là phù hợp.
Lương Văn M, Moong Văn L tuy không phải là người khởi xướng nhưng là người tích cực thực hiện hành vi phạm tội, trực tiếp giết, làm thịt bê nên cũng cần áp dụng cho các bị cáo M, L hình phạt nghiêm nhưng thấp hơn bị cáo H trong khoảng đề nghị của kiểm sát viên là phù hợp.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo:
Đối với bị cáo Lương Công H: Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy bị cáo là người khởi xướng việc lấy trộm bò nhưng nhân thân bị cáo tốt, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo phạm tội lần đầu, hành vi phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện đầu thú và bồi thường thiệt hại cho người bị hại, được người bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của kiểm sát viên và người bào chữa áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên xét thấy chưa cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo được hưởng án treo là đủ tác dụng răn đe, giáo dục.
Đối với bị cáo Lương Văn M: Bị cáo M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy bị cáo là người trực tiếp thực hiện việc giết, làm thịt bò nhưng không phải là người khởi xướng hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo tốt, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo phạm tội lần đầu, hành vi phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện đầu thú và bồi thường thiệt hại cho người bị hại, được người bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của kiểm sát viên và người bào chữa áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên xét thấy chưa cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo được hưởng án treo là đủ tác dụng răn đe, giáo dục.
Đối với bị cáo Moong Văn L: Bị cáo L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo không phải là người khởi xướng hành vi phạm tội nhưng là người trực tiếp thực hiện việc giết, làm thịt bò. Bị cáo phạm tội lần đầu, hành vi phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện đầu thú và bồi thường thiệt hại cho người bị hại, được người bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của kiểm sát viên và người bào chữa áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có 01 tiền sự: Ngày 28/4/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 01 năm 06 tháng (ngày 16/5/2021 chấp hành xong) mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo L, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục.
Đối với anh Lô Văn T và Moong Văn N là những người đã cùng ăn thịt bò do H, M, L trộm cắp mà có nhưng quá trình điều tra xác định được khi cùng ăn uống thì anh T, anh Nkhông biết việc H, M, L trộm bò nên không cấu thành tội phạm.
Đối với anh Lương Văn T là người cho bị cáo Lương Công H mượn chiếc xe máy Honda Wave RS, màu đỏ, đen, trắng mang biển kiểm soát 99B1-281.90. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy có đăng ký chủ xe là chị Đào Thị M, sinh năm 1980, địa chỉ: khu phố 3 Cẩm Giang, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh nhưng chị M đã bán cho anh Lương Văn T, bị cáo H sử dụng xe máy để đi trộm cắp tài sản anh Tào không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tương Dương đã trả lại chiếc xe cho anh Lương Văn T là đúng quy định. Quá trình giải quyết vụ án anh T không có yêu cầu gì về phần dân sự đối với việc bị cáo H sử dụng xe máy nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 173 Bộ luật hình sự lẽ ra cần áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo, song xét thấy các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, có hoàn cảnh gia đình và sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, khó có khả năng thi hành nên miễn hình phạt bổ sung cho cả ba bị cáo.
Về dân sự: Các bị cáo đã bồi thường cho bị hại chị Lô Thị Xí L. Chị L không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên miễn xét.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 01 con dao dài 37cm, cán làm bằng gỗ, hình trụ tròn dài 13cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 24cm, một đầu nhọn, phần rộng nhất của lưỡi dao là 05cm và 01 bao đựng dao làm bằng gỗ hình chữ nhật (25x6cm), trên thân bao đựng dao có dây màu đen; 01 con dao dài 33cm, cán làm bằng gỗ, hình trụ tròn dài 12cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 21cm, mũi dao nhọn, phần rộng nhất của lưỡi dao là 03cm và 01 bao đựng dao làm bằng gỗ hình chữ nhật (21x4cm); 01 bao bì màu trắng, đỏ kích thước (70x40cm); 01 bộ móng chân động vật màu đen đựng trong túi niêm phong ký hiệu PS3, có mã số PS3A 121063; 01 xương động vật màu trắng đựng trong túi niêm phong ký hiệu PS3, có mã số PS3A 121064 cần tịch thu và tiêu hủy.
Về án phí: Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử xét thấy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho tất cả các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo đúng quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lương Công H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Lương Công H 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lương Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Lương Văn M 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Lương Công H, Lương Văn M cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Moong Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Moong Văn L 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13 tháng 08 năm 2021.
- Về dân sự: Miễn xét.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án gồm: 01 con dao dài 37cm, cán làm bằng gỗ, hình trụ tròn dài 13cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 24cm, một đầu nhọn, phần rộng nhất của lưỡi dao là 05cm và 01 bao đựng dao làm bằng gỗ hình chữ nhật (25x6cm), trên thân bao đựng dao có dây màu đen; 01 con dao dài 33cm, cán làm bằng gỗ, hình trụ tròn dài 12cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 21cm, mũi dao nhọn, phần rộng nhất của lưỡi dao là 03cm và 01 bao đựng dao làm bằng gỗ hình chữ nhật (21x4cm); 01 bao bì màu trắng, đỏ kích thước (70x40cm); 01 bộ móng chân động vật màu đen đựng trong túi niêm phong ký hiệu PS3, có mã số PS3A 121063; 01 xương động vật màu trắng đựng trong túi niêm phong ký hiệu PS3, có mã số PS3A 121064. (Tình trạng các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 20 ngày 11/11/2021 giữa cơ quan Công an huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An)..
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lương Công H, Lương Văn M, Moong Văn L.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 12/01/2022. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND, VKSND tỉnh NA;
- VKS Tương Dương;
- Công an Tương Dương;
- UBND xã N;
- UBND xã X;
- Bị cáo;
Hoàng Văn Cường
- Người bào chữa;
- Bị hại;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Sở Tư Pháp Nghệ An;
- Chi cục THADS Tương Dương;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH NGHỆ AN
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi ..... giờ ..... phút, ngày 12 tháng 01 năm 2022.
Tại: Phòng nghị án – Trụ sở tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Văn Dương và bà Lô Thị Huyền.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sở thẩm thụ lý số 121/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2021 đối với:
1. Bị cáo Lương Công H, sinh ngày 18 tháng 12 năm 1980 tại huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
2. Bị cáo Lương Văn M, sinh ngày 09 tháng 3 năm 1992 tại huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
3. Bị cáo Moong Văn L, sinh ngày 17 tháng 7 năm 1995 tại huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
Căn cứ vào Điều 299, 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ, trả hồ sơ về điều tra bổ sung.
Kết quả biểu quyết: 3/3
2. Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập đều hợp pháp.
Kết quả biểu quyết: 3/3
3. Căn cứ kết tội:
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố các bị cáo Lương Công H, Lương Văn M, Moong Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Kết quả biểu quyết: 3/3
4. Hình phạt:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lương Công H, Lương Văn M.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Moong Văn L.
- Xử phạt: Lương Công H 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án.
- Xử phạt: Lương Văn M 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Lương Công H, Lương Văn M cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Xử phạt: Moong Văn L 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13 tháng 08 năm 2021.
Kết quả biểu quyết: 3/3
5. Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.
Kết quả biểu quyết: 3/3
6. Các vấn đề khác
- Về dân sự: Miễn xét.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án gồm: 01 con dao dài 37cm, cán làm bằng gỗ, hình trụ tròn dài 13cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 24cm, một đầu nhọn, phần rộng nhất của lưỡi dao là 05cm và 01 bao đựng dao làm bằng gỗ hình chữ nhật (25x6cm), trên thân bao đựng dao có dây màu đen; 01 con dao dài 33cm, cán làm bằng gỗ, hình trụ tròn dài 12cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 21cm, mũi dao nhọn, phần rộng nhất của lưỡi dao là 03cm và 01 bao đựng dao làm bằng gỗ hình chữ nhật (21x4cm); 01 bao bì màu trắng, đỏ kích thước (70x40cm); 01 bộ móng chân động vật màu đen đựng trong túi niêm phong ký hiệu PS3, có mã số PS3A 121063; 01 xương động vật màu trắng đựng trong túi niêm phong ký hiệu PS3, có mã số PS3A 121064. (Tình trạng các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 20 ngày 11/11/2021 giữa cơ quan Công an huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An)..
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lương Công H, Lương Văn M, Moong Văn L.
- Về tạm giam bị cáo: Áp dụng các Điều 109, 113, 119 và 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam đối với bị cáo Moong Văn L để đảm bảo cho việc thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12 tháng 01 năm 2022).
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 12/01/2022. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Kết quả biểu quyết: 3/3
7. Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, xét xử đều hợp pháp.
Kết quả biểu quyết: 3/3
Nghị án kết thúc vào hồi ..... giờ .... phút, ngày 12 tháng 01 năm 2022.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH NGHỆ AN
Tương Dương, ngày 12 tháng 01 năm 2022 Số: ......../2022/HSST-QĐTG
QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Vi Văn Dương.
- Bà: Lô Thị Huyền.
Căn cứ vào các Điều 109, 113, 119 và 329 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào biên bản nghị án ngày 12 tháng 01 năm 2022 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;
Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1.
Tạm giam bị cáo: Moong Văn L. Tên gọi khác: Không
Sinh ngày 17 tháng 7 năm 1995 tại huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản Piêng Luống, xã Nhôn Mai, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An;
Nghề nghiệp: Không
Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt: 07 (bảy) tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản.
Theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Thời hạn tạm giam 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 12 tháng 01 năm 2022).
Điều 2.
Cơ sở tạm giam: Nhà tạm giữ Công an huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
| Nơi nhận: - VKSND H.Tương Dương; - Công an huyện Tương Dương; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Cường |