vanban.org

Bản án 04/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 18/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Văn C 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09-7-2021. Về tang vật trong vụ án: Đã trao trả cho chủ sỡ hữu, HĐXX miễn xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 04/2022/HS-ST
Ngày 18-01-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trƣơng Văn Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Quang Tuyến

Ông Dƣơng Tấn Đấu

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Chí, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Vinh, Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 152/2021/HSST ngày 02 tháng 12 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2022/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 01 năm 2022, đối với bị cáo:

- Nguyễn Văn C, sinh năm 1997, tại: Phú Quốc, Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú: Khu Phố A, phường D Đ, thành phố P Q, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở hiện nay: Như trên; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 7/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị Kim A (đều chết); Anh chị em ruột có 04 người, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 1992; Bị cáo chưa có vợ.

Tiền án: 01 lần, ngày 16-7-2018, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc xử phạt 03 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009. Ngày 21-12-2020 chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không. Nhưng về nhân thân ngày 17-8-2015, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09-07-2021 đến nay (có mặt).

- Bị hại: Anh Phan Đ, sinh năm 2003 (xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp S Đ, xã D T, thành phố P Q, tỉnh Kiên Giang

- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1- Chị Thạch Thị Kim H, sinh năm 1990 (xin xét xử vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp T B 1, xã C H A, huyện V L, tỉnh Bạc Liêu.

Chỗ ở hiện nay: Khu Phố B, phường D Đ, thành phố P Q, tỉnh Kiên Giang.

2- Anh Trịnh Văn S, sinh năm 2000 (xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp CTT, xã C D, thành phố P Q, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào đầu tháng 07-2021, bà Thạch Thị Kim H có nhờ Trịnh Văn S tìm mua cho bà H 01 xe mô tô cũ để dùng làm phương tiện đi lại. Đến ngày 03-07-2021, S nói với Nguyễn Văn C có biết ai bán xe cũ giá rẻ không nói cho S biết vì có người quen muốn mua. C nói có người quen ở Suối Tiên có xe Wave Alpha cũ muốn bán. Đến khoảng 10 giờ ngày 06/07/2021, S sử dụng xe mô tô của người tên B (không rõ biển số) đi đem cơm cho B thì C xin đi theo. Sau đó, S điều khiển xe mô tô chở C đi vào Suối Tiên thuộc ấp Suối Đá, xã Dương Tơ, thành phố Phú Quốc, trên đường đi đến đoạn đường thuộc tổ 4, ấp S Đ, C phát hiện xe mô tô loại Wave Alpha, biển số 68P1 - 69980 của anh Phan Đ đang dựng trước nhà, trên xe có sẳn chìa khóa, nên C nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô của anh Đ nhưng không nói cho S biết. Đến khoảng 10 giờ 40 phút cùng ngày, sau khi S vào Suối Tiên đưa cơm cho B xong. S chở C về ngang qua nhà anh Đ khoảng 50m, C vẫn nhìn thấy xe mô tô của anh Đ dựng trước nhà không có người, nên kêu S dừng xe lại. Nghe vậy, S dừng xe lại bên đường, C xuống xe đi bộ trở lại, S không hỏi gì mà tiếp tục đứng chờ. C đi bộ đến nhà anh Đ lấy trộm chiếc xe mô tô của anh Đ dẫn ra ngoài đường điều khiển xe chạy đi. Thấy C chạy xe nên S cũng điều khiển xe chạy theo C đi về. Trên đường đi, C nhờ S dẫn C đi bán xe, S nghĩ đây là xe mô tô người quen C nhờ bán nên S dẫn C đến nhà bà Thạch Thị Kim H ở khu phố B, phường D Đ bán với giá 2.000.000 đồng, số tiền bán xe C đã tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 08-07-2021, Nguyễn Văn C bị Cơ quan điều tra Công an thành phố Phú Quốc khởi tố, tạm giam để điều tra.

Tang vật thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Hon da, loại Wave, màu trắng đen bạc, biển kiểm soát 68P1 - 699.80, số khung: RLHJA3929MY125609, số máy: JA39E2242912.

Về xử lý vật chứng: Xe mô tô nhãn hiệu Hon da, lọa Wave, màu trắng đen bạc, biển kiểm soát 68P1 - 699.80, số khung: RLHJA3929MY125609, số máy: JA39E2242912. Đã trả lại cho bị hại đề nghị miễn xét.

Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 47 ngày 16-7-2021 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Phú Quốc kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Hon da, lọa Wave, màu trắng đen bạc, biển kiểm soát 68P1 - 699.80, số khung: RLHJA3929MY125609, số máy: JA39E2242912, tại thời điểm tháng 7 năm 2021, trị giá 16.000.000 đồng.

Bản cáo trạng số: 159/CT-VKSPQ ngày 29 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án. Bị cáo không khai thêm tình tiết mới, khẳng định quá trình điều tra không bị ép cung, bức cung, nhục hình.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa kết luận hành vi của bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 12 đến 18 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phú Quốc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai nhận tại Cơ quan điều tra, kết luận giám định, lời khai của bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Vào khoảng 10 giờ 40 phút ngày 06-07-2021, tại tổ 4, ấp S Đ, xã D T, thành phố P Q, tỉnh Kiên Giang, Nguyễn Văn C lén lút lấy trộm xe mô tô hiệu Honda, loại Wave Alpha, biển số 68P1 - 699.80 của anh Phan Đ, trị giá 16.000.000 đồng. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức được tài sản của người khác là khách thể được pháp luật bảo vệ, bất kỳ ai thực hiện hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác một cách trái pháp luật thì bị xử lý nghiêm. Bị cáo đã lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của chủ sỡ hữu, lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sỡ hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 16-7-2018, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc xử phạt 03 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự. Ngày 21-12-2020 chấp hành xong hình phạt về địa phương sinh sống, chưa được xóa án tích, bị cáo không biết hối cải để lao động chân chính mà tiếp tục lao vào con đường phạm tội. Do đó, cần xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo phạm tội, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy tại phiên tòa và tại cơ quan Điều tra bị cáo thật thà khai báo, lời nói sau cùng thể hiện thái độ biết ăn năn hối cải. Do vậy, sau khi thảo luận nghị án Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử bị cáo mức hình phạt vừa phải cũng đủ nghiêm.

Về tang vật trong vụ án: Đã trao trả cho chủ sỡ hữu, HĐXX miễn xét.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm, HĐXX miễn xét.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt: Nguyễn Văn C 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09-7-2021.

3. Về tang vật trong vụ án: Đã trao trả cho chủ sỡ hữu, HĐXX miễn xét.

4. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm, HĐXX miễn xét.

5. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú) để yêu cầu xét xử phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang./.

Cỡ chữ