vanban.org

Bản án 04/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 01/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Mấu T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Xử phạt: Bị cáo Lê Siêu V 01 (Một) năm cải tạo không giam giữ về tội: “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày UBND x SB được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được Quyết định thi hành án và … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — ""Tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" và "Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Mấu T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KS
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2022/HS-ST
Ngày: 01 - 7 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thế Vỹ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Cao Thị Hiền

2. Ông Phan Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Hạnh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Cảnh - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 7 năm 2022, tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Mấu T (T1), sinh ngày: 01 tháng 01 năm 1997 tại: KS, Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn TL, thị trấn TH, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa; Chỗ ở: Thôn LB, x SB, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ h c vấn: Không biết chữ; dân tộc: Raglai; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin Lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Cao Văn Tr (đ chết) và bà: Mấu Thị Ng (sinh năm: 1972); Vợ: Bo Bo Thị Ph, sinh năm: 1998; con: Chưa; Tiền án: không; Tiền sự: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 01/HSST-CĐKNCT, ngày 29/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện KS. Bị cáo tại ngoại (có mặt).

2. Lê Siêu V, sinh ngày: 19 tháng 6 năm 1995 tại: KS, Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn LB, x SB, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ h c vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn B (đ chết) và bà: Nguyễn Thị Kim C (sinh năm: 1974); Vợ, con: Chưa; Tiền án: không; Tiền sự: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 02/HSST-CĐKNCT, ngày 29/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện KS. Bị cáo tại ngoại (có mặt).

Bị hại: 1. Nguyễn Trọng Ph, sinh năm: 1986

Nơi cư trú: Tổ dân phố PS, phường CP, thành phố CR, tỉnh Khánh Hòa. (vắng mặt)

2. Nguyễn Nhật T2 (chết), sinh năm: 1980

Nơi cư trú: Tổ dân phố LH, phường CL, thành phố CR, tỉnh Khánh Hòa.

Người đại diện hợp pháp cho bị hại Nguyễn Nhật T2 có:

- Chị Phạm Thị Ngọc T, sinh năm: 1982

Nơi cư trú: Tổ dân phố LH, phường CL, thành phố CR, tỉnh Khánh Hòa.

(vắng mặt)

- Ông Nguyễn Tr, sinh năm: 1959

Nơi cư trú: Tổ dân phố LT, phường CL, thành phố CR, tỉnh Khánh Hòa.

- Bà Hồ Thị Ph, sinh năm:1961

Nơi cư trú: Tổ dân phố LT, phường CL, thành phố CR, tỉnh Khánh Hòa.

(Ông Tr và bà Ph ủy quyền cho chị Phạm Thị Ng c T - theo giấy ủy quyền ngày 22 tháng 03 năm 2022).

Người làm chứng:

1. Lê Đại Hoàng M, Sinh năm: 2001

Nơi cư trú: Thôn LB, x SB, huyện KS, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa. (có mặt)

2. Trần Đình L, Sinh năm: 1983

Nơi cư trú: Thị trấn PP, huyện TS, tỉnh Bình Định

Chỗ ở: 26 đường ÂC, tổ dân phố HP, thị trấn TH, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa. (vắng mặt).

3. Lê Quốc H, Sinh năm: 1974

Nơi cư trú: Thôn LH, xã SH, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa. (vắng mặt).

4. Đỗ Nguyễn Tr, Sinh năm: 1982

Nơi cư trú: Thôn LH, x SH, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa. (vắng mặt).

5. Phan Đức Lâm Đ, Sinh năm: 1996

Nơi cư trú: Thôn TG, x SH, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa. (vắng mặt).

6. Bo Bo Thị Ph, Sinh năm: 1998

Nơi cư trú: Thôn LB, x SB, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa. (vắng mặt).

7. Nguyễn Văn Ch, Sinh năm: 1980

Nơi cư trú: Thôn LH, x SB, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ ngày 02/10/2021, Lê Siêu V giao xe máy chuyên dùng phục vụ sản xuất nông nghiệp nh n hiệu KUBOTA L3001DT, màu cam kéo theo rơ moóc màu xanh cho Mấu Tílà người làm thuê cho V và chưa có giấy phép lái xe. V yêu cầu T điều khiển xe chuyên dùng trên và Lê Đại Hoàng M là em trai V (không có giấy phép lái xe) điều khiển xe chuyên dùng phục vụ sản xuất nông nghiệp nh n hiệu SHIBAURA SD4043DTT, màu đỏ kéo theo rơ moóc màu xanh để chở cát từ x SB đến thị trấn TH.

Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, T và Minh điều khiển xe theo hướng thị trấn TH - SB. M điều khiển xe đi phía trước, Tí điều khiển xe đi phía sau, hai xe cách nhau khoảng 10m. Khi đi đến Km 41+700 đường tỉnh lộ 9 thuộc thôn LH, x SH, huyện KS, M phát hiện xe môtô nh n hiệu HONDA-BLADE, màu sơn: đen - trắng - đỏ, biển kiểm soát 79C1-504.56 do Nguyễn Nhật T điều khiển chở Nguyễn Tr ng Ph đi ngược chiều nên M điều khiển sang phải tránh va chạm với xe môtô. Lúc này, T đang đi lấn phần đường ngược chiều và bất ngờ nhìn thấy xe môtô 79C1-504.56 nên đạp phanh đồng thời điều khiển xe đi sang phải theo chiều đi của mình. Tuy nhiên, khi xe chưa sang đúng phần đường thì phần sơ mi rơmoóc kéo phía sau va chạm với xe môtô gây tai nạn. Hậu quả: Nguyễn Nhật T1 chết trên đường đi cấp cứu, Nguyễn Tr ng Ph được chuyển đến bệnh viện Quân y 87 để điều trị.

Ngày 29/10/2021, Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa có bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 391/TT-TTPY kết luận nguyên nhân tử vong của Nguyễn Nhật T1 là chấn thương s n o.

Ngày 27/12/2021, Trung tâm pháp y thành phố Hồ Chí Minh có bản kết luận giám định pháp y về hóa pháp số HST 856/ĐC.2021 kết luận: Nồng độ Etanol trong máu của Nguyễn Nhật T là 225,56 mg/100ml

Ngày 13/12/2021, Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa có bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 393/TgT-TTPY kết luận: Tổng tỉ lệ % tổn thương cơ thể của Nguyễn Tr ng Ph là: 20%.

Ngày 14/12/2021, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện KS có kết luận định giá tài sản số: 1151/KL-ĐGTS xác định: Tổng giá trị những bộ phận bị hư hỏng của xe môtô 79C1-504.56 là: 2.136.660đ (Hai triệu một trăm ba mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi đồng).

Đối với hành vi của Lê Đại Hoàng M điều khiển xe máy kéo tham gia giao thông không có giấy phép lái xe theo quy định, Cơ quan Cảnh sát điều tra đ chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đến Đội Cảnh sát Giao thông Công an huyện KS xử lý theo thẩm quyền.

Tại bản cáo trạng số: 03/CT-VKS ngày 29 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, tỉnh Khánh Hòa đ truy tố các bị cáo Mấu T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự; Lê Siêu V về tội: “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện KS vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Mấu T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Mấu T. Đề nghị xử phạt Mấu T: 02 năm 06 tháng - 03 năm tù; Bị cáo Lê Siêu V về tội: “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 264; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Siêu V 01 năm - 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo bị khấu trừ thu nhập 5 - 10% thu nhập hàng tháng.

Về phần dân sự: Các bị cáo Mấu T, Lê Siêu V đ tự nguyện bồi thường số tiền 78.500.000đ cho chị Phạm Thị Ng c Tr - đại diện hợp pháp cho bị hại Nguyễn Nhật T1. Trong đó 75.000.000đ bồi thường thiệt hại về tính mạng bị xâm hại và 3.500.000đ bồi thường thiệt hại chiếc xe môtô nh n hiệu HONDA BLADE, biển kiểm soát 79C1.504.56. Bồi thường 2.000.000đ về sức khỏe cho anh Nguyễn Tr ng Ph. Chị Tr và anh Ph không yêu cầu gì thêm nên không xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng hiện đang quản lý tại kho vật chứng thuộc Chi cục Thi hành án dân sự huyện KS. Đối với xe máy cày hiện đang tạm giữ tại Cơ quan điều tra để tiếp tục xác minh chủ sở hữu nên không xét.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Mấu Tí là người đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế x hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm, Lê Siêu Vinh phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Ý kiến của bị cáo Mấu T: Bị cáo đ biết lỗi lầm của mình, gia đình bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, thuộc diện hộ nghèo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Ý kiến của bị cáo Lê Siêu V: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo đ biết mình sai nên đ khắc phục hậu quả.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện KS, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.

Ngày 01/7/2022, Tòa án nhân dân huyện KS nhận được đơn xin xét xử vắng mặt của bị hại Nguyễn Tr ng Ph và đại diện hợp pháp cho bị hại Nguyễn Nhật T1 (chết) có chị Phạm Thị Ng c Tr. Xét thấy, yêu cầu của anh Ph và chị Tr là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự nên chấp nhận.

Trong hồ sơ và tại phiên tòa các bị cáo Lê Siêu V và Mấu T đều thừa nhận: Khoảng 17 giờ, ngày 02/10/2021, Lê Siêu V giao xe máy chuyên dùng phục vụ sản xuất nông nghiệp nh n hiệu KUBOTA L3001DTT, màu cam kéo theo rơ moóc màu xanh cho Mấu T là người làm thuê cho V và chưa có giấy phép lái xe. V yêu cầu T điều khiển xe chuyên dùng trên và Lê Đại Hoàng M là em trai V (không có giấy phép lái xe) điều khiển xe chuyên dùng phục vụ sản xuất nông nghiệp nh n hiệu SHIBAURA SD4043DTT, màu đỏ kéo theo rơ moóc màu xanh để chở cát từ x SB đến thị trấn Tô Hạp.

Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, T và M điều khiển xe theo hướng thị trấn TH - SB. M điều khiển xe đi phía trước, T điều khiển xe đi phía sau, hai xe cách nhau khoảng 10m. Khi đi đến Km 41+700 đường tỉnh lộ 9 thuộc thôn LH, x SH, huyện KS, M phát hiện xe môtô nh n hiệu HONDA-BLADE, màu sơn: đen - trắng - đỏ, biển kiểm soát 79C1-504.56 do Nguyễn Nhật T điều khiển chở Nguyễn Tr ng Ph đi ngược chiều nên M điều khiển sang phải tránh va chạm với xe môtô. Lúc này, T đang đi lấn phần đường ngược chiều và bất ngờ nhìn thấy xe môtô 79C1-504.56 nên đạp phanh đồng thời điều khiển xe đi sang phải theo chiều đi của mình. Tuy nhiên, khi xe chưa sang đúng phần đường thì phần sơ mi rơmoóc kéo phía sau va chạm với xe môtô gây tai nạn. Hậu quả: Nguyễn Nhật T1 chết trên đường đi cấp cứu, Nguyễn Tr ng Ph được chuyển đến bệnh viện Quân y 87 để điều trị.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 02/10/2021 xác định: Xe môtô biển kiểm soát 79C1-504.56 nằm trên lòng đường, ng sang bên phải, đầu xe quay hướng tây, đuôi xe quay hướng đông; trục bánh trước cách điểm mốc 14,6m, cách mép đường bên phải 4,4m; trục bánh sau cách điểm mốc 13,6m, cách mép đường bên phải 4,4m.

01 vết màu đỏ nhỏ gi t dài 7,3m, nằm d c theo hướng đông - tây có vị trí: điểm đầu (hướng đi thị trấn Tô Hạp) có vị trí: cách điểm mốc 8,8m, cách mép đường bên phải 2,8m; điểm cuối (hướng đi UBND x SH) có vị trí: cách điểm mốc 13,9m, cách mép đường bên phải 3,45m.

Cách điểm mốc 11,05m, cách mép đường bên phải 4,75m có 01 mũ bảo hiểm màu đỏ - đen, trên mũ có ký hiệu Honda Hoàng Nhật, trên mũ có 02 vết nứt và bị trầy xước.

Cách điểm mốc 12,7m, cách mép đường bên phải 3,25m có 01 mũ bảo hiểm màu trắng, trên mũ có ký hiệu X-TEEN, trên mũ có nhiều vết xước.

Cách điểm mốc 12,7m, cách mép đường bên phải 3,7m có 01 vùng màu đỏ kích thước 1 x 1,5m.

Cách điểm mốc 12,55m, cách mép đường bên phải 4,5m phát hiện 01 chiếc dép màu đen, bên trái đ cũ có ký hiệu ASIA, kích thước 28 x 11cm.

Ngày 29/10/2021, Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa có bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 391/TT-TTPY kết luận nguyên nhân tử vong của Nguyễn Nhật T1 là chấn thương s n o.

Ngày 27/12/2021, Trung tâm pháp y thành phố Hồ Chí Minh có bản kết luận giám định pháp y về hóa pháp số HST 856/ĐC.2021 kết luận: Nồng độ Etanol trong máu của Nguyễn Nhật T1 là 225,56 mg/100ml.

Ngày 13/12/2021, Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa có bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 393/TgT-TTPY kết luận: Tổng tỉ lệ % tổn thương cơ thể của Nguyễn Tr ng Ph là: 20%.

Ngày 14/12/2021, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện KS có kết luận định giá tài sản số: 1151/KL-ĐGTS xác định: Tổng giá trị những bộ phận bị hư hỏng của xe môtô 79C1-504.56 là: 2.136.660đ (Hai triệu một trăm ba mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi đồng).

Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại Nguyễn Tr ng Ph và những người làm chứng Lê Đại Hoàng M, Trần Đình L, Lê Quốc H, Đỗ Nguyễn Tr, Phan Đức Lâm Đ, Nguyễn Văn Ch, Bo Bo Thị Ph; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường; Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông của Công an huyện KS; giấy chứng nhận thương tích số: 21050016/GCN ngày 15/11/2021 của Bệnh viện quân y 87; bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 393/TgT-TTPY ngày 13/12/2021; bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 391/TT-TTPY ngày 29/10/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa; bản kết luận giám định pháp y về hóa pháp số HST 856/ĐC.2021, ngày 27/12/2021 của Trung tâm pháp y thành phố Hồ Chí Minh và nội dung bản cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 29/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện KS.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho x hội, bị cáo Lê Siêu V mặc dù biết rõ bị cáo Mấu T không có giấy phép lái xe đối với loại xe máy chuyên dùng phục vụ sản xuất nông nghiệp nhưng bị cáo vẫn bất chấp, giao cho Mấu T điều khiển xe máy chuyên dùng phục vụ sản xuất nông nghiệp nh n hiệu KUBOTA L3001DTT, màu cam kéo theo rơ moóc màu xanh để tham gia giao thông và đ gây tai nạn.

Bị cáo Mấu T điều kiển xe máy chuyên dùng phục vụ sản xuất nông nghiệp nh n hiệu KUBOTA L3001DT, màu cam kéo theo rơmoóc màu xanh nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định, lấn trái đường nên đ gây ra tai nạn giao thông tại Km 41+700 đường tỉnh lộ 9 thuộc thôn LH, x SH, huyện KS vào ngày 02/10/2021, hậu quả: làm chết anh Nguyễn Nhật T1, làm bị thương Nguyễn Tr ng Ph với tỉ lệ thương tật là 20%, gây hư hỏng 01 xe môtô biển kiểm soát 79C1-504.56, giá trị thiệt hại là 2.136.660đ (Hai triệu một trăm ba mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi đồng).

Hành vi của các bị cáo đ xâm phạm đến lĩnh vực trật tự an toàn công cộng, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân, gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông. Do đó, cáo trạng số: 03/CT-VKS, ngày 29 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện KS đ truy tố bị cáo Mấu T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự; bị cáo Lê Siêu V về tội: “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; chưa có tiền án, tiền sự; đ bồi thường thiệt hại cho bị hại và được bị hại Nguyễn Tr ng Ph; đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Nhật T là chị Phạm Thị Ng c Tr xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Mấu T là người đồng bào dân tộc thiểu số, gia đình thuộc diện hộ nghèo, trình độ văn hóa thấp, nhận thức pháp luật có phần hạn chế nên bị cáo được hưởng các tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên xem xét xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt mà Viện kiểm sát đ truy tố (theo Điều 54 Bộ luật hình sự) để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tao, sớm trở thành người công dân tốt cho x hội.

Bị cáo Lê Siêu V phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm tr ng; bị cáo có thời gian phục vụ trong quân ngũ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của từng bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo Mấu T cần phải xử lý nghiêm và cần cách ly bị cáo ra khỏi x hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung; Bị cáo Lê Siêu V có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi x hội mà cho bị cáo được cải tại không giam giữ cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về khấu trừ tài sản thu nhập: Hội đồng xét xử xét bị cáo Lê Siêu V có nghề nghiệp và có thu nhập nên cần khấu trừ tài sản thu nhập hàng tháng của bị cáo là 5% thu nhập.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Lê Siêu V có nghề nghiệp làm nông, thu nhập thấp nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Mấu T, Lê Siêu V đ tự nguyện bồi thường đầy đủ số tiền thiệt hại về sức khỏe cho anh Nguyễn Tr ng Ph là 2.000.000đ và bồi thường cho chị Phạm Thị Ng c Tr - đại diện hợp pháp cho bị hại Nguyễn Nhật T1 bao gồm: tiền thiệt hại về tính mạng là 75.000.000đ, tiền thiệt hại chiếc xe môtô 79C1.504.56 là 3.500.000đ. Chị Tr và anh Ph không yêu cầu gì thêm nên không xét.

Về vật chứng của vụ án bao gồm:

- 01 xe máy kéo nh n hiệu KUBOTA có số máy 1080, L3001DT, màu sơn: cam kéo theo rơmoóc màu xanh. Tình trạng xe: chiều dài từ đầu xe máy kéo đến phần rơmoóc phía sau: 302cm, khoảng cách giữa hai bánh xe phía trước của xe máy kéo là 142cm, bánh xe cao 75cm; khoảng cách giữa hai bánh xe phía sau của xe máy kéo là 157cm,bánh xe cao 123cm. Đèn chiếu sáng phía trước của xe không còn, thay vào đó phía trước đầu xe có gắn 01 đèn chiếu sáng tự chế kích thước 16,5 x 6,5cm, cách mặt đất 52cm. Rơ moóc dài 341cm, rộng 244cm, điểm cao nhất 147cm, điểm thấp nhất 87cm, bánh xe phần rơ moóc cao 82cm. Xét thấy: Chiếc xe máy kéo nói trên, Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh chủ sở hữu nên sẽ xử lý sau.

- 01 mũ bảo hiểm màu đỏ đen, trên mũ có ký hiệu HONDA HN, phía trước trên mũ có hai vết nứt, trên vùng nứt có dấu vết trầy xước; 01 mũ bảo hiểm màu trắng, trên mũ có chữ X-TEEN; 01 chiếc dép màu đen bên trái đ cũ có ký hiệu ASIA, kích thước 28 x 11cm; 01 thanh kim loại hình trụ, màu trắng dài 15cm, đường kính 2,5cm, một đầu có gắn cục kim loại màu đen hình tròn bằng vít; 01 mảnh nhựa màu xám, kích thước 25 x 11cm. Các vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Mấu T là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở x có điều kiện kinh tế - x hội đặc biệt khó khăn nên được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Lê Siêu V phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

(theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án);

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Mấu T;

Xử phạt: Bị cáo Mấu T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 264; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Siêu V;

Xử phạt: Bị cáo Lê Siêu V 01 (Một) năm cải tạo không giam giữ về tội: “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày UBND x SB được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.

- Giao bị cáo Lê Siêu V cho UBND x SB, huyện KS giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

- Khấu trừ một phần thu nhập hàng tháng của bị cáo Lê Siêu V là 5%/tháng để sung quỹ nhà nước.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Tr ng Ph, đại diện hợp pháp cho bị hại Nguyễn Nhật T1 có chị Phạm Thị Ng c Tr không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xét.

- Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 mũ bảo hiểm màu đỏ đen, trên mũ có ký hiệu HONDA HN, phía trước trên mũ có hai vết nứt, trên vùng nứt có dấu vết trầy xước; 01 mũ bảo hiểm màu trắng, trên mũ có chữ X-TEEN; 01 chiếc dép màu đen bên trái đ cũ có ký hiệu ASIA, kích thước 28x11cm; 01 thanh kim loại hình trụ, màu trắng dài 15cm, đường kính 2,5cm, một đầu có gắn cục kim loại màu đen hình tròn bằng vít; 01 mảnh nhựa màu xám, kích thước 25 x 11cm.

(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/5/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện KS và Chi cục Thi hành án dân sự huyện KS).

- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Mấu T.

Bị cáo Lê Siêu V phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo Mấu Tí, Lê Siêu V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại Nguyễn Tr ng Ph; đại diện hợp pháp cho bị hại Nguyễn Nhật T1 có ông Nguyễn Tr, bà Hồ Thị Ph, chị Phạm Thị Ng c Tr có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ