- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lằm Sìn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC TỈNH A ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2022/HS-ST Ngày: 20 - 01 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH A
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Hồng Điệp
Ông Phạm Văn Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hương – Thư ký án nhân dân huyện Đ, tỉnh A.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh A tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Diệp - Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 20 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh A xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2021/TLST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
Lằm Sìn S, tên gọi khác: không; Sinh năm: 1991 tại tỉnh T; Nơi ĐKNKTT: thôn H, xã N, huyện B, tỉnh T; Nơi cư trú: ấp 3, xã L, huyện Đ, tỉnh A; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Con ông: Lằm Chăn Sồi và bà Vòng Mỹ Kín; Tiền sự: Không; Tiền án: Tại bản án số 41/HSST ngày 24/6/2014 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh T xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bị cáo chưa đóng án phí dân sự).
- Nhân thân:
+ Tại bản án số 01/HSST ngày 08/01/2010 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh T xử phạt 18 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
+ Tại bản án số 39/HSST ngày 26/6/2013 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh T xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Tại bản án số 86/HSST ngày 20/10/2015 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh T xử phạt 15 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản.
- Bị cáo bị tạm giam từ ngày 06/10/2021 cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ (có mặt).
- Bị hại: Anh Nguyễn Minh V, sinh năm: 1985 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp 3, xã L, huyện Đ, tỉnh A.
- Người có quyền lợi- nghĩa vụ liên quan:
1/ Anh Nguyễn Công O, sinh năm: 1972 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp Cầu Tre, xã Lợi Bn, thành phố Tân An, tỉnh A
2/ Chị Trần Thị Kim T, sinh năm: 2000
Địa chỉ: ấp 3, xã Tp, huyện TT, tỉnh A.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi của bị cáo: Khoảng 07 giờ ngày 20/6/2021, do cần tiền tiêu xài, Lằm Sìn S điều khiển xe mô tô biển số 60L2 - 8032 chở Trần Thị Kim T đi từ phòng trọ thuộc Ấp 3, xã L đến huyện Bến Lức để xin tiền người dân. S và T xin được 100.000 đồng rồi cả hai quay về nhà trọ. Trên đường đi ngang nhà anh Nguyễn Minh V ở ấp 3, xã L, S thấy cửa nhà trước khép hờ, cửa nhà sau mở nên dừng xe lại để vào nhà xin tiền. Lúc này, S kêu T đứng ngoài chờ, còn S đi bộ vào nhà anh V nhưng thấy không có ai, trên thùng loa phát nhạc đặt gần cửa nhà sau có để 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 màu đen nên nảy sinh ý định trộm cắp. S lấy điện thoại trên bỏ vào túi quần rồi đi ra ngoài chở T về phòng trọ thì mới nói cho T biết việc S đã lấy cắp điện thoại ở nhà anh V. Sau đó, S lấy 02 thẻ sim trong điện thoại ra bỏ đi, rồi điều khiển xe chở T đến cửa hàng điện thoại di động Quang Phát thuộc Khu phố 6, thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức bán cho anh Nguyễn Công O (chủ cửa hàng) với giá 1.500.000 đồng. Số tiền bán được điện thoại S mua nước và thuốc hút hết 45.000 đồng, còn lại 1.455.000 đồng S bỏ vào túi quần rồi tiếp tục chở T đến tiệm cầm đồ Bến Lức để chuộc lại điện thoại của S đã cầm trước đó, khi đi đến khu vực gần cầu Ông Bình bị anh V phát hiện nên giữ T và S lại do cả hai có đặc điểm giống như đối tượng mà camera nhà anh V ghi lại khi bị mất điện thoại và trình báo Công an. Tại Cơ quan Công an, S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTX, ngày 13/9/2021 của Hội đồng định giá thường xuyên trong TTHS huyện Đ thì giá trị 01 điện thoại Samsung Galaxy A12, màu đen là 3.330.000 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lằm Sìn S, thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo trình bày: Bị cáo bị truy cứu về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng, không oan sai. Bị cáo không có ý kiến về Kết luận định giá tài sản và lời khai của người bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt mà Hội đồng xét xử công bố tại phiên tòa. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo tự nguyện khai báo; không có ai đe dọa, cưỡng ép.
Bị hại anh Nguyễn Minh V có lời trình bày tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa về diễn biến sự việc và hành vi phạm tội của bị cáo. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 màu đen S lấy trộm, anh đã nhận lại. Anh V không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Người có quyền lợi- nghĩa vụ liên quan : Anh Nguyễn Công O vắng mặt nhưng có lời trình bày tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ phù hợp lời khai của bị cáo. Anh O đã nhận số tiền 1.445.000đồng mà S nộp. Anh O không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Người có quyền lợi- nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị Kim T vắng mặt nhưng có lời trình bày tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ như sau: Khi S thực hiện hành vi trộm điện thoại di động của anh V, T không biết và không tham gia thực hiện.
Bản Cáo trạng số 01/CT-VKSCĐ ngày 14/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh A truy tố bị cáo Lằm Sìn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lằm Sìn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lằm Sìn S từ 12 đến 15 tháng tù. Đề nghị miễn phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: không đề cập.
Đối với xe mô tô biển số 60L2 – 0832 S dùng đi trộm cắp chưa xác minh được chủ sở hữu nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp.
Riêng Trần Thị Kim T khi S thực hiện hành vi trộm cắp điện thoại di động của anh V, T không biết và không tham gia thực hiện chung nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hình sự đối với T là phù hợp.
Ý kiến của bị cáo về quyết định truy tố của Viện kiểm sát: Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét nội dung vụ án: Qua tranh tụng tại phiên tòa có căn cứ để Hội đồng xét xử kết luận: Khoảng 7 giờ ngày 20/6/2021, tại Ấp 3, xã L, huyện Đ, Lằm Sìn S lợi dụng lúc nhà anh Nguyễn Minh V không người trông coi, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt của anh V 01 điện thoại Samsung Galaxy A12, màu đen. Tại kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTX, ngày 13/9/2021 của Hội đồng định giá thường xuyên trong TTHS huyện Đ thì giá trị 01 điện thoại Samsung Galaxy A12, màu đen là 3.330.000 đồng.
Tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
…”
Hành vi của bị cáo Lằm Sìn S đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình Sự, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét thấy truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh A đối với bị cáo Lằm Sìn S là có căn cứ. Chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, tuyên bố bị cáo Lằm Sìn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án số 41/HSST ngày 24/6/2014 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh T xử phạt bị cáo 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng bị cáo chưa đóng án phí. Bị cáo lại tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này thuộc tường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã thu hồi trả cho người bị hại, phạm tội nhất thời và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo so với mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Xét hình phạt đối với bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người bị hại; tác động xấu đến nếp sống văn minh lành mạnh; gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu vì vậy, cần phải xử lý nghiêm mới đủ sức răn đe phòng ngừa chung, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật; đồng thời giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội. Với tính chất hành vi, khả năng nhận thức của bị cáo, mức độ O quả mà bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo. Xét bị cáo không có thu nhập nên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát miễn phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
Xét trách nhiệm dân sự: Anh Hoàn, anh O đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xét.
Về án phí: Bị cáo Lằm Sìn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đối với xe mô tô biển số 60L2 – 0832 S dùng đi trộm cắp chưa xác minh được chủ sở hữu nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp.
Riêng Trần Thị Kim T khi S thực hiện hành vi trộm cắp điện thoại di động của ông V, T không biết và không tham gia thực hiện chung nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hình sự đối với T là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên bố: Bị cáo Lằm Sìn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lằm Sìn S 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành tính từ ngày bị tạm giam (06/10/2021).
Tiếp tục tạm giam bị cáo Lằm Sìn S 45 ngày kể từ ngày tuyên án (20/01/2022) để đảm bảo kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Về án phí: Bị cáo Lằm Sìn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc được Tòa án niêm yết bản án hợp lệ.
Thành viên Hội đồng xét xử
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Văn Thành
Ngô Hồng Điệp
Huỳnh Hữu Nghĩa
Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:
Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:
(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).
(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).
(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.
(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của
Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.
(6) ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).
(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).
(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.
(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.
(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thân ghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp th́ ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.
(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.
(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].
(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.
(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:
| Nơi nhận: Ghi những nơi mà Tòa án cấp sơ thẩm phải THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA giao hoặc gửi bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 262 của Bộ luật Tố tụng hình sự và những nơi cần lưu bản án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |