vanban.org

Bản án 04/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Lê Thị T và anh Nguyễn Văn K.

Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của các đương sự. Giao cháu Nguyễn Xuân T, sinh ngày 18/01/2004 và cháu Nguyễn Vân A, sinh ngày 04/8/2008 cho anh K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, lao động tự lập được. Chị T không phải cấp dưỡng nuô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Thị T xin ly hôn anh Nguyễn Văn K"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Lê Thị T và anh Nguyễn Văn K.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM BẢNG
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2022/HNGĐ-ST
Ngày 19/01/2022
V/v “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Nguyệt.

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Trần Ngọc Luân.

+ Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hiền - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Sen - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 116/2021/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2021/QĐXX- HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2022 giữa:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Có mặt

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Ksinh năm 1980.

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn ly hôn và quá trình xét xử, chị Lê Thị T là nguyên đơn trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn K kết hôn tự nguyện, có được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 10 tháng 01 năm 2003 tại UBND xã H, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị sinh sống và làm ăn tại thôn T, xã H, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do anh K thường xuyên uống rượu và chửi bới, đánh đập chị. Tháng 9/2021 chị không thể tiếp tục chung sống cùng với anh K được nữa nên đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn Đ, xã H, huyện Kim Bảng sống, vợ chồng chị sống ly thân và chấm dứt quan hệ vợ chồng kể từ đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết được ly hôn với anh K.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 10 tháng 12 năm 2021, anh Nguyễn Văn K là bị đơn trình bày: Về thời gian, điều kiện kết hôn, thời gian chung sống, mâu thuẫn của vợ chồng và thời gian vợ chồng sống ly thân đúng như chị Ttrình bày. Nay chị T ly hôn anh, anh không đồng ý ly hôn ý, vì anh vẫn còn tình cảm vợ chồng với chị T.

Về con chung: Chị Lê Thị T và anh Nguyễn văn K thống nhất trình bày, vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Xuân T, sinh ngày 18/01/2004 và cháu Nguyễn Vân A, sinh ngày 04/8/2008. Khi ly hôn chị T và anh K thống nhất giao cháu T và cháu A cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi, lao động tự lập được. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh K theo sự tự nguyện của anh K.

Về con riêng: Không có.

Về tài sản chung, riêng, công sức đóng góp và diện tích đất nông nghiệp, công nợ: Chị T và anh K cùng thống nhất trình bày không có.

Tại phiên tòa đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bầy, không thay đổi bổ sung gì. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Các Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị T. Xử ly hôn giữa chị Lê Thị T và anh Nguyễn Văn K. Về con chung: Giao cháu cháu Nguyễn Xuân T, sinh ngày 18/01/2004 và cháu Nguyễn Vân A, sinh ngày 04/8/2008 cho anh K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, lao động tự lập được. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con theo sự tự nguyện của anh K. Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện của chị Lê Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Nguyễn Văn K là bị đơn; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

Về hôn nhân: Chị Lê Thị T và anh Nguyễn Văn K kết hôn tự nguyện, có được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 10 tháng 01 năm 2003 tại UBND xã H, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do anh K thường xuyên uống rượu và chửi bới, đánh đập chị. Tháng 9/2021 chị T không thể tiếp tục chung sống cùng với anh K được nữa nên đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn Đ, xã H, huyện Kim Bảng sống, vợ chồng sống ly thân và chấm dứt quan hệ vợ chồng kể từ đó cho đến nay, không quan tâm đến cuộc sống, tình cảm của nhau. Qua các tài liệu xác minh, lời thừa nhận của đương sự thì mâu thuẫn của vợ chồng chị T, anh K đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T xin ly hôn anh K là có căn cứ phù hợp với quy định Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị Chị Lê Thị T và anh Nguyễn Văn K có 02 con chung là cháu Nguyễn Xuân T, sinh ngày 18/01/2004 và cháu Nguyễn Vân A, sinh ngày 04/8/2008. Trong quá trình giải giải quyết vụ án và tại phiên toà, chị T và anh K thỏa thuận được với nhau về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của các đương sự là giao cháu Nguyễn Xuân T, sinh ngày 18/01/2004 và cháu Nguyễn Vân A, sinh ngày 04/8/2008 cho anh K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, lao động tự lập được. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con theo sự tự nguyện của anh K là phù hợp với quy định tại Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.

Về con riêng: Không có.

Về tài sản:

Tài sản chung, riêng; công nợ; công sức đóng góp và diện tích đất nông nghiệp: Không có.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 272; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 271; Điều 272; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Các Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82 ; Điều 83 Luật hôn nhân gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Lê Thị T và anh Nguyễn Văn K.

2. Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của các đương sự. Giao cháu Nguyễn Xuân T, sinh ngày 18/01/2004 và cháu Nguyễn Vân A, sinh ngày 04/8/2008 cho anh K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, lao động tự lập được. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con cùng anh K theo sự tự nguyện của anh K.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Án phí: Chị Lê Thị T chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu tiền số 0000024 ngày 26/11/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng. Chị T đã nộp đủ.

4. Quyền kháng cáo: Chị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ