- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn giữa chị Lê Thị Mộng L và anh Lê Cao Tiến"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Mộng L, cho chị Lê Thị Mộng L được ly hôn với anh Lê Cao T.
- Căn cứ chính? Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2022/HNGĐ-ST Ngày: 22-4-2022 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ái Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Diệp Huyền Thảo
Bà Thạch Thị Ngọc Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Minh Loan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Mộng L, sinh năm 1989
Địa chỉ: Khóm 3, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Bị đơn: Anh Lê Cao T, sinh năm 1977
Địa chỉ: Japan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 10 năm 2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Mộng L trình bày: Do người thân giới thiệu chị và anh Lê Cao T qua thời gian tìm hiểu đã tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND huyện C, tỉnh Trà Vinh vào ngày 29/01/2019. Sau khi kết hôn do anh T đang làm ăn tại Nhật Bản nên anh chị chung sống một thời gian ngắn thì anh T trở lại Nhật Bản, còn chị thì ở Việt Nam, thời gian đầu anh chị còn thường xuyên liên lạc, sau đó do công việc của anh T nên việc liên lạc ngày càng ít đi, từ đó vợ chồng dần có khoảng cách, không còn tình cảm nữa. Chị nhận thấy hôn nhân không thể tiếp tục, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Cao T; về con chung: Không có; về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: Không có.
Tại đơn yêu cầu giải quyết xét xử vắng mặt bị đơn anh Lê Cao T trình bày: Anh thống nhất ly hôn theo yêu cầu của chị L. Hiện nay anh đang sinh sống, làm việc tại Nhật Bản, do tình hình dịch bệnh không về Việt Nam được nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt anh.
Do chị Lê Thị Mộng L và anh Lê Cao T đều có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải và giải quyết xét xử vắng mặt nên vụ kiện đã được Tòa án Quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Ý kiến của Kiểm sát viên: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét thấy chị Lê Thị Mộng L và anh Lê Cao T kết hôn với nhau là tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, giữa anh chị phát sinh mâu thuẫn, nay chị L yêu cầu ly hôn, anh T cũng thống nhất ly hôn với chị L. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L, cho chị L và anh T được ly hôn với nhau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về thẩm quyền: Chị Lê Thị Mộng L khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lê Cao T, do anh T có nơi cư trú và làm việc tại Nhật Bản nên đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh, Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và Gia đình, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 2 Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Chị Lê Thị Mộng L và anh Lê Cao T vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự.
Về hôn nhân: Chị Lê Thị Mộng L và anh Lê Cao T kết hôn với nhau vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của chị L, anh T là hợp pháp. Thời gian chung sống do hai người ở hai nước khác nhau, chỉ liên lạc trao đổi qua điện thoại nên dần có sự xa cách, anh chị không còn tình cảm với nhau nữa. Chị L, anh T đều có ý kiến là đồng ý ly hôn với nhau, sự thỏa thuận của anh chị là tự nguyện, đúng pháp luật, nên căn cứ Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình để chấp nhận yêu cầu khởi kiện cho chị Lê Thị Mộng L và anh Lê Cao T được ly hôn với nhau.
Về con chung, về tài sản chung, về nợ chung: Cả chị L, anh T đều khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Xét thấy ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, như Hội đồng xét xử đã nhận định ở phần trên. Vì vậy chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.
Về án phí: Theo khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Do đó, buộc chị Lê Thị Mộng L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 238, khoản 1 Điều 273, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, khoản 1 Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Mộng L, cho chị Lê Thị Mộng L được ly hôn với anh Lê Cao T.
Về con chung, về tài sản chung, về nợ chung: Không có, nên Tòa án không xem xét.
Về án phí: Buộc chị Lê Thị Mộng L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0008802 ngày 10/01/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh, chị L đã nộp đủ án phí.
Báo cho nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày; bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TANDCC tại TpHCM; - VKSND tỉnh Trà Vinh; - Cục THADS tỉnh Trà Vinh; - UBND huyện C; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Ái Loan |