- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cao Thị Kim A ly hôn Lê Hồng B"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội;
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2022/HNGĐ-ST Ngày: 11-01-2022 V/v: “Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà:
Ông Nguyễn Duy Đạt
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Hoàng Hiệp
Ông Ngô Bá Hượng
-Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Thị Kim Thùy-Thư ký TAND huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đình Rư-Kiểm sát viên.
Ngày 11-01-2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 297/TLST-HNGĐ ngày 16/11/2021 về “Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/12/2021, giữa:
-Nguyên đơn: Bà Cao Thị Kim A, sinh năm 1990; nơi cư trú: Ấp 1, xã 2, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt)
-Bị đơn: Ông Ngô Hồng B, sinh năm 1986; nơi cư trú: Ấp 2, xã 3, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Cao Thị Kim A trình bày:
Về hôn nhân: Bà A và Ông Ngô Hồng B tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2019, được UBND xã 3, huyện Xuyên Mộc cấp chứng nhận kết hôn số 110, ngày 10/11/2020; hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc, có tổ chức hỏi, cưới. Sau khi lấy nhau cả hai về chung sống tại ấp 2, xã 3, huyện Xuyên Mộc;
Bà A và ông B chung sống hạnh phúc đến tháng 11/2020 thì xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, ông B sử dụng ma túy và có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh cãi, chung sống không còn hạnh phúc. Bà A và ông B đã ly thân và không còn sống chung với nhau từ tháng 11/2020 đến nay. Nhận thấy vợ chồng chung sống không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không có nên bà A yêu cầu được ly hôn với ông B.
Về con chung: Bà A và ông B có 01 con chung tên Ngô Gia B1, sinh ngày 01/4/2021 đang sống cùng bà A. Bà A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông B cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà A không yêu cầu Toà án giải quyết.
2. Tại bản tự khai bị đơn Ông Ngô Hồng B trình bày:
Về hôn nhân: Ông B thống nhất như lời trình bày của bà Cao Thị Kim A về thời gian và điều kiện kết hôn, con chung, tài sản chung, nợ chung, mẫu thuẫn vợ chồng và thời điểm ly thân. Ông B đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà A.
Về con chung: Ông B và bà A có 01 con chung như bà A trình bày; ông B đồng ý giao con chung cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, ông B không cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông B không yêu cầu Toà án giải quyết.
-Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Việc Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc thụ lý vụ án là đúng theo quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, HĐXX cũng như việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong vụ án này đúng theo những quy định của BLTTDS.
Về nội dung: Về yêu cầu của nguyên đơn thì thấy, hôn nhân giữa bà A và ông B là hôn nhân hoàn toàn hợp pháp, có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa hai bên đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà A. Bà A và ông B có 01 con chung tên Ngô Gia B1, sinh ngày 01/4/2021 đang sống cùng bà A; con chung chưa đủ 3 tuổi và ông B đồng ý giao con chung cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng nên có căn cứ ghi nhận. Bà A, ông B không yêu cầu giải quyết tài sản chung và nợ chung nên không xem xét. Từ phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Bà A yêu cầu ly hôn với ông B, yêu cầu giao con chung cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng, ông B có hộ khẩu thường trú tại huyện Xuyên Mộc; Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự (viết tắt là BLTTDS), HĐXX xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Xuyên Mộc.
Về người tham gia tố tụng: Bà A và ông B cùng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và được Tòa án chấp nhận nên theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Về hôn nhân: Bà A và ông B được Ủy ban nhân dân UBND xã 3, huyện Xuyên Mộc cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (BL 01), theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình thì hôn nhân giữa bà A, ông B là hôn nhân hợp pháp.
Về yêu cầu ly hôn: Bà A, ông B xác nhận vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 11/2020 thì xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, ông B sử dụng ma túy và có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh cãi, chung sống không còn hạnh phúc. Bà A và ông B đã ly thân và không còn sống chung từ tháng 11/2020 đến nay. HĐXX xét thấy mâu thuẫn giữa bà A và ông B đã đến mức trầm trọng, vợ chồng không còn sống chung, không còn yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà A đối với ông B.
Về nuôi con chung và cấp dưỡng cho con: Bà A và ông B có 01 con chung tên Ngô Gia B1, sinh ngày 01/4/2021 đang sống cùng bà A; bà A và ông B thống nhất giao con chung cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng, ông B không phải cấp dưỡng cho con. Xét việc thỏa thuận của các bên đương sự không trái đạo đức xã hội, phù hợp với nguyện vọng của con chung và quy định khoản 2, 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên HĐXX ghi nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Do bà A, ông B không yêu cầu nên HĐXX không xem xét quyết định.
Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn giao nộp và lời thừa nhận của các bên phù hợp với quy định tại các Điều 93, 94, 95, 96 BLTTDS là chứng cứ của vụ án.
Về án phí: Đối với vụ án hôn nhân và gia đình thì nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn.
Về phát biểu của Kiểm sát viên: Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên ghi nhận.
Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự và Viện kiểm sát nhân dân được quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định BLTTDS.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
-Các Điều 19, 51, 56, 57, 59, 60, 81, 82, 83, 84, 85, 116 và 117 Luật Hôn nhân và gia đình;
-Khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 147, 173, 177, 179, 227, 228, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
-Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị Kim A đối với Ông Ngô Hồng B.
1.1. Về hôn nhân: Bà Cao Thị Kim A được ly hôn với Ông Ngô Hồng B.
1.2. Về con chung và cấp dưỡng cho con: Bà Cao Thị Kim A được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Ngô Gia B1, sinh ngày 01/4/2021 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi phát sinh các căn cứ pháp lý làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ nuôi con. Ông B không phải cấp dưỡng cho con do bà A không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn bà A, ông B đều có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Ông B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà bà A và những người thân thích không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì quyền lợi của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng cho con.
1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà A và ông B không yêu cầu Toà án giải quyết.
2. Về án phí: Bà Cao Thị Kim A phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà A đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0010588 ngày 16/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc. Bà A đã nộp đủ án phí.
- Ông Ngô Hồng B không phải chịu án phí.
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày; VKSND cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 11/01/2022). Các đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
4. Về thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -Người tham gia tố tụng; -VKSND huyện Xuyên Mộc; -VKSND tỉnh BR-VT; -TAND tỉnh BR-VT; -Chi Cục THADS huyện Xuyên Mộc; -UBND xã 3 (CNKH 110 ngày 10/11/2020); -Lưu hồ sơ, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Đạt |