- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án Ly hôn và tranh chấp nuôi con giữa chị Hoàng Thị N và anh Hoàng Văn L."
- Tòa quyết gì? Căn cứ khoản2 Điều 227; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2022/HNGĐ-ST Ngày: 19- 01-2022 V/v: Ly hôn và tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tấn;
2. Ông Lý Trung Hiếu.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 248/2021/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2021 về việc: “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2021/QĐXX-ST ngày 20 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2022/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị N; sinh năm 1993;
Địa chỉ: Thôn A, xã Y, huyện V, tỉnh Lào Cai; có mặt.
- Bị đơn: Anh Hoàng Văn L, sinh năm 1991;
Địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện VY, tỉnh Yên Bái; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ Á N:
Trong đơn khởi kiện ngày 23 tháng 11 năm 2021 và những lời khai tiếp theo cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Hoàng Thị N trình bày:
Chị và anh Hoàng Văn L trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 06/12/2010 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện VY, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 8 năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp, vợ chồng nhiều lần xảy ra xô xát, cãi cọ, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không được cải thiện. Chị và anh L đã sống ly thân mỗi người một nơi từ năm 2015, chị chuyển về nhà Bố Mẹ đẻ sinh sống tại thôn A, xã Y, huyện V, tỉnh Lào Cai từ năm 2015 đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng với anh không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Hoàng Văn L.
Về con chung: Chị N và anh L có 02 con chung Hoàng Thị H, sinh ngày 13/10/2010 và Hoàng Huy L, sinh ngày 19/8/2012. Ly hôn chị N có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án nhân dân huyện VY, tỉnh Yên Bái đã nhiều lần báo gọi, gửi thông báo phiên hòa giải và trong quá trình giải quyết vụ án có gửi các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh Hoàng Văn L nhưng anh L không có mặt theo yêu cầu của Tòa án. Qua xác minh tại địa phương (Bút lục 29-Bút lục 30) thì “anh Hoàng Văn L hiện vẫn đăng ký hộ khẩu tại thôn P, xã C, huyện VY, tỉnh Yên Bái. Anh L chưa cắt khẩu hoặc chuyển khẩu đi đâu; chị Hoàng Thị N đã chuyển khẩu về xã Y, huyện V, tỉnh Lào Cai. Về tình trạng hôn nhân: Chị N và anh L đã sống ly thân mỗi người một nơi, chị N chuyển về bên gia đình nhà ngoại sinh sống, anh L thường đi làm ăn xa, thi thoảng mới về”.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/12/2021 (Bút lục số 27), ông Hoàng Văn X cho biết: “Anh Hoàng Văn L là con trai ông. Chị Hoàng Thị N và anh Hoàng Văn L trước khi kết hôn có được tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã C, huyện VY, tỉnh Yên Bái ngày 06/12/2010, trước đó chị N và anh L chung sống với nhau như vợ chồng từ đầu năm 2010 và có làm thủ tục cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn chị N và anh L chung sống cùng gia đình ông X. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, xảy ra xô xát, cãi cọ. Gia đình có phân tích, hoà giải nhưng tình cảm vợ chồng giữa chị N và anh L vẫn không được cải thiện. Chị N đã chuyển về gia đình bên ngoại sinh sống tại huyện V, Lào Cai từ năm 2015, vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Chị N yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn anh L đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung chị N và anh L có hai con chung Hoàng Thị H, sinh ngày 13/10/2010 và Hoàng Huy L, sinh ngày 19/8/2012, các cháu đang do chị N chăm sóc, nuôi dưỡng; Về tài sản chung nợ chung: Theo ông X chị N và anh L không có. Ông đã nhận thay Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho anh L và đã liên lạc thông báo cho anh L biết nhưng anh L không về, đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật”.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị N được ly hôn anh Hoàng Văn L; Về con chung: Giao 02 con chung Hoàng Thị H, sinh ngày 13/10/2010 và Hoàng Huy L, sinh ngày 19/8/2012 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu H, cháu L đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi. Anh Hoàng Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Anh Hoàng Văn L là bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt anh Hoàng Văn L.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị N và anh Hoàng Văn L trước khi kết hôn có tìm hiểu và tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 06/12/2010 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện VY, tỉnh Yên Bái. Việc kết hôn đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật Hôn nhân và Gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh L là hợp pháp.
[3] Về mâu thuẫn vợ chồng, Hội đồng xét xử thấy: Quá trình chung sống chị N và anh L tính cách không phù hợp, bất đồng quan điểm sống. Chị N và anh L đã sống ly thân mỗi người một nơi từ năm 2015 đến nay. Từ đó vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã báo gọi anh L nhiều lần nhưng anh L đều vắng mặt. Do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được. Qua xác minh tại gia đình anh L thì mâu thuẫn giữa chị N và anh L là đúng, chị N và anh L đã sống ly thân mỗi người một nơi từ năm 2015 đến nay không ai quan tâm đến ai, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ những phân tích trên thấy yêu cầu ly hôn của chị N là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hoàng Thị N.
[4] Về con chung: Chị Hoàng Thị N và anh Hoàng Văn L có 02 con chung Hoàng Thị H, sinh ngày 13/10/2010 và Hoàng Huy L, sinh ngày 19/8/2012. Ly hôn chị N có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu H, cháu L và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy: Nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của chị N là chính đáng và phù hợp với nguyện vọng của cháu H và cháu L muốn được ở cùng với chị, mặt khác các cháu còn nhỏ rất cần sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ. Do đó cần giao cháu H và cháu L cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục đến khi cháu H, cháu L đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi.
Chị Hoàng Thị N không yêu cầu anh Hoàng Văn L phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xét.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử được chấp nhận.
[7] Về án phí: Chị Hoàng Thị N là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản2 Điều 227; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị N được ly hôn anh Hoàng Văn L.
2. Về con chung: Giao con chung Hoàng Thị H, sinh ngày 13/10/2010 và Hoàng Huy L, sinh ngày 19/8/2012 cho chị Hoàng Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu H, cháu L đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi. Anh Hoàng Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, anh Hoàng Văn L có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hoàng Thị N không yêu cầu Toà án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Hoàng Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí chị N đã nộp theo biên lai số AA/2021/0001323 ngày 23-11-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Xác nhận chị N đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Hoàng Văn L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện VY; - Thi hành án DS huyện VY; - UBND xã C; - Các đương sự; - Lưu: HS, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Hƣơng |