vanban.org

Bản án 04/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận Bà Tín Ùy S (tên gọi khác: Tín Quỳ S) và ông Hoàng Sần M là vợ chồng. Về chăm sóc, nuôi dưỡng con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Không công nhận Tín Ùy S và Hoàng Sần M là vợ chồng"
  • Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỦA CHÙA
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 15/8/2022
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tòng Thị Lan Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lò Thị Dậu, Bà Vì Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng- Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 20/2022/TLST - HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2022, về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2022/QĐXX- ST ngày 27 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Tín Ùy S (tên gọi khác: Tín Quỳ S) – Sinh năm 1975 Nơi cư trú: thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Điện Biên. Có mặt. 2. Bị đơn: Ông Hoàng Sần M – Sinh năm 1974 Nơi cư trú: thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Điện Biên. Có mặt. 3. Người phiên dịch: Ông Tống Seo Kh– Sinh năm 1976 Nơi cư trú: thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Điện Biên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, các văn bản ghi ý kiến và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:

Bà Tín Ùy S và ông Hoàng Sần M chung sống với nhau từ năm 1994 do sự tự nguyện của cả hai bên, hai người không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn chửi mắng nhau do bất đồng quan điểm sống về cách dậy con cái và kinh tế gia đình, mặc dù hai bên gia đình khuyên giải nhiều lần nhưng mâu thuẫn không thể hàn gắn được, hai người đã sống ly thân từ tháng 11/2021 đến nay. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Hoàng Sần M

Về con chung: Hai người có 05 con chung là Hoàng Tả Ph – SN: 12/7/1995, Hoàng Xuân Y- SN: 03/02/1997, Hoàng Xuân L - SN: 16/4/2000, Hoàng Xuân Th - SN: 30/12/2002, Hoàng Sín H - SN: 24/02/2005. Nguyên đơn yêu cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc Hoàng Sín H và không yêu cầu ông Hoàng Sần M phải cấp dưỡng nuôi con. Các con Hoàng Tả Ph, Hoàng Xuân Y, Hoàng Xuân L, Hoàng Xuân Th đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong bản tự khai, văn bản ghi ý kiếnvà tại phiên tòa bị đơn nhất trí với ý kiến nguyên đơn về quan hệ hôn nhân hai người không đăng ký kết, chỉ làm đám cưới theo phong tục của dân tộc, về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và con chung. Về các yêu cầu của nguyên đơn bị đơn đồng ý ly hôn, nhất trí để nguyên đơn nuôi Hoàng Sín H và bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với Hoàng Tả Ph, Hoàng Xuân Th, Hoàng Xuân Y, Hoàng Xuân L hiện nay các con đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết; về tài sản chung, nợ không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn giữ nguyên ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Tủa Chùa. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong việc giải quyết vụ án; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn: Chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ khi được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải.

Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; Về con chung đề nghị giao cháu Hoàng Sín H cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; Về cấp dưỡng, về tài sản chung, nợ các bên không yêu cầu giải quyết nên không đề nghị xem xét; Về án phí: đề nghị miễn án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét ý kiến của những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng:

Yêu cầu xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải chỉ có mặt nguyên đơn, bị đơn vắng mặt không có lý do. Ngày 28/6/2022 nguyên đơn có đơn đề nghị không hòa giải, nên đây là vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Tín Ùy S và ông Hoàng Sần M chung sống với nhau từ năm 1994 trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên, hai người không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ tổ chức đám cưới theo phong tục của dân dân tộc. Về nguyên nhân xin ly hôn do hai bên bất đồng về quan điểm sống và kinh tế trong gia đình nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn chửi mắng nhau, cuộc sống chung không thể kéo dài đến nay tình cảm giữa hai người không còn, nguyên đơn không muốn chung sống với bị đơn nữa; Về quan hệ hôn nhân và nguyên nhân mâu thuẫn bị đơn nhất trí với ý kiến của nguyên đơn là hai người không có đăng ký kết hôn, UBND xã S có văn bản xác nhận hai người không đăng ký kết hôn. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Tín Ùy S và ông Hoàng Sần M.

Về con chung: Hai người có 05 con chung, trong đó có 04 con là Hoàng Tả Ph, Hoàng Xuân Th, Hoàng Xuân Y, Hoàng Xuân L đã trưởng thành các bên không yêu cầu giải quyết; Đối với Hoàng Sín H – sinh ngày 24/02/2005 các bên đã thỏa thuận, thống nhất nguyên đơn có trách nhiệm nuôi dưỡng Hoàng Sín H và bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy thỏa thuận của các bên là tự nguyện, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình và phù hợp với nguyện vọng của con, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận thỏa thuận của các bên. [3] Về tài sản chung và nợ: Các bên không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét. [4] Về án phí: Nguyên đơn đã được miễn nộp tiền tạm ứng phí dân sự sơ thẩm, là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn nộp án phí, nên cần miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 207, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận Bà Tín Ùy S (tên gọi khác: Tín Quỳ S) và ông Hoàng Sần M là vợ chồng.

2. Về chăm sóc, nuôi dưỡng con chung:

Giao cho bà Tín Ùy S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc Hoàng Sín H - sinh ngày 24/02/2005.

Về cấp dưỡng: Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết hai bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, giải quyết nợ: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15/8/2022).

Cỡ chữ