- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Vàng Seo C ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Vàng Seo C và anh Hảng Seo T.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2022/HNGĐ-ST Ngày 26/01/2022 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG – TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Diện.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sền Quang Thảo và ông Nguyễn Đạt Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Ngọc Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Tòa án nhân dân huyện Mường Khương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 102/2021/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 11 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vàng Seo C, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn TCP, xã TNC, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai, vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Anh Hảng Seo T, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn TCP, xã TNC, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. (Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Hồng Ca, Trấn Yên, Yên Bái), vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 11 năm 2021 và bản tự khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Vàng Seo C trình bày: Chị và anh Hảng Seo T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2004, không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật mà do gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục, tập quán của địa phương. Sau khi chung sống vợ chồng chị sống hạnh phúc, đến năm 2009 anh Hảng Seo T vi phạm pháp luật và bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu kết án tù chung thân, hiện đang chấp hành hình phạt tại Trại giam Hồng Ca. Sau khi chồng bị kết án, chị đã cố gắng ở lại để làm việc và nuôi dưỡng các con chung. Nay chị Vàng Seo C xét thấy tình cảm giữa vợ chồng chị không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 03 người con chung là cháu Hảng Thị N, sinh ngày 20 tháng 01 năm 2005, cháu Hảng Thị D, sinh ngày 28 tháng 01 năm 2007 và cháu Hảng Minh C1, sinh ngày 22 tháng 4 năm 2009. Khi ly hôn nguyện vọng của chị C là được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả ba cháu đến tuổi trưởng thành và chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 22/12/2021, bị đơn anh Hảng Seo T trình bày: Anh và chị Vàng Seo C chung sống với nhau vào năm 2004, không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Đến năm 2009 thì anh phạm tội về ma túy và bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt tù chung thân, hiện đang chấp hành án tại Trại giam Hồng Ca. Nay chị C làm đơn khởi kiện xin ly hôn, anh đồng ý ly hôn.
Về con chung: Trong quá trình chung sống anh chị có 03 người con chung là cháu Hảng Thị N, sinh ngày 20 tháng 01 năm 2005, cháu Hảng Thị D, sinh ngày 28 tháng 01 năm 2007 và cháu Hảng Minh C1, sinh ngày 22 tháng 4 năm 2009. Anh đồng ý để chị C được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, và anh không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 11/01/2022, Tòa án nhân dân huyện Mường Khương đã tiến hành phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải về việc nuôi con chung của vợ chồng. Tại phiên hòa giải chị C có mặt và chị vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình; còn anh Hảng Seo T vắng mặt, anh có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Tòa án nhân dân huyện Mường Khương đã gửi thông báo về kết quả phiên họp công khai chứng cứ cho anh T theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, chị Vàng Seo C và anh Hảng Seo T đều vắng mặt. Anh T và chị C đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng quy định, việc chấp hành pháp luật của bị đơn là chưa đúng.
Về quan điểm giải quyết vụ án, đại diện Viện sát nhân dân huyện Mường Khương đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử theo hướng không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Vàng Seo C và anh Hảng Seo T.
Về con chung: Giao các cháu Hảng Thị N, sinh ngày 20 tháng 01 năm 2005, cháu Hảng Thị D, sinh ngày 28 tháng 01 năm 2007 và cháu Hảng Minh C1, sinh ngày 22 tháng 4 năm 2009 cho chị Vàng Seo C được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh Hảng Seo T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Do các đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đề cập xử lý. Tuyên án phí, quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về tố tụng: Chị Vàng Seo C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Hảng Seo T. Chị C và anh T đều có hộ khẩu thường trú tại huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Nay chị C xin ly hôn và đề nghị Tòa án giải quyết về con chung nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mường Khương theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, chị C và anh T đều vắng mặt, cả hai đương sự đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung vụ án:
-Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã xác định được: Chị Vàng Seo C và anh Hảng Seo T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2004, không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân của chị C và anh T không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Chị C khởi kiện xin ly hôn, vì vậy cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Vàng Seo C và anh Hảng Seo T là đúng quy định của pháp luật.
-Về con chung: Quá trình chung sống, chị C và anh T có 03 con chung là cháu Hảng Thị N, sinh ngày 20 tháng 01 năm 2005, cháu Hảng Thị D, sinh ngày 28 tháng 01 năm 2007 và cháu Hảng Minh C1, sinh ngày 22 tháng 4 năm 2009. Từ khi anh T đi chấp hành án thì cả ba cháu đều ở với chị C, do chị C nuôi dưỡng. Nguyện vọng của chị C là được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tòa án đã tiến hành hỏi ý kiến các cháu, cả ba cháu đều có nguyện vọng được ở với chị C. Nghề nghiệp của chị C là sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi, thu nhập bình quân khoảng 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng/tháng. Vì vậy để đảm bảo cuộc sống của các cháu được ổn định, cần giao cháu Hảng Thị N, cháu Hảng Thị D và cháu Hảng Minh C1 cho chị C được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
-Về tài sản chung và nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[3] Về án phí: Chị Vàng Seo C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Vàng Seo C và anh Hảng Seo T.
2. Về con chung: Giao các cháu Hảng Thị N, sinh ngày 20 tháng 01 năm 2005, cháu Hảng Thị D, sinh ngày 28 tháng 01 năm 2007 và cháu Hảng Minh C1, sinh ngày 22 tháng 4 năm 2009 cho chị Vàng Seo C được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh Hảng Seo T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền được thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
3.Về án phí: Chị Vàng Seo C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai ký hiệu AC-21P, số 0006449, ngày 10 tháng 11 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
4.Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Lào Cai; -VKSND Huyện MK, VKSND tỉnh Lào Cai; -Chi cục THADS huyện Mường Khương; -Các đương sự; -Lưu HS, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Hồng Diện |