vanban.org

Bản án 04/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà T được ly hôn với ông P. (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 24, quyển số: I/2009-2010, ngày đăng ký: 23/02/2010, do Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp) 2. Về con chung: 02 con chung là anh H sinh ngày 09/8/1994 và chị K sinh ngày 30/01/2001 hiện nay đều đã th…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn (T-P)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.
  • Căn cứ chính? Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KẾ SÁCH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 18 - 01 - 2022
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Tăng Thị Bạch Vân.

Ông Hứa Văn Khương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Dương Thanh Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 345/2021/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2021 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 347/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 01/2022/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà T. Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt, có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông P. Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 24/11/2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà T trình bày: Vào năm 1993, bà T và ông P tự nguyện kết hôn với nhau và được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới, sau đó có đăng ký kết hôn và được UBND xã B cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 23/02/2010. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 25 năm, quá trình chung sống có với nhau 02 người con chung tên H sinh ngày 09/8/1994 và K sinh ngày 30/01/2001, hiện nay đã trưởng thành, phát triển bình thường, tự lao động để sống. Đến năm 2020 do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, kinh tế gia đình không ổn định, ông P không lo làm ăn, không lo kinh tế gia đình, không quan tâm vợ con, thích di chơi giao du với bạn bè. Do đó, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh ngày càng trầm trọng, từ đó bà T đã ly thân với ông P.

Nay bà T nhận thấy không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng, nên yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

+ Về hôn nhân: Bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông P.

+ Về con chung: 02 người con chung tên H sinh ngày 09/8/1994 và K sinh ngày 30/01/2001 hiện nay đã trưởng thành, phát triển bình thường, tự lao động để sống, nên bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Bà T và ông P tự thỏa thuận, nên bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do hiện nay tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng đang diễn biến hết sức phức tạp, nên bà T đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm và trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Mọi vấn đề có liên quan bà T vẫn giữ nguyên theo đơn khởi kiện là xin ly hôn với ông P. Bà T cam kết không khiếu nại gì về sau.

- Bị đơn ông P: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông P nhưng ông P không có mặt tham gia tố tụng theo các giấy triệu tập của Tòa án và cũng không có ý kiến trình bày hay yêu cầu gì trong vụ án này.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà T vắng mặt nhưng trong văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt thì bà T vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, theo phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Theo nội dung yêu cầu khởi kiện, về hôn nhân, bà T yêu cầu được ly hôn với ông P; về con chung, bà T không yêu cầu giải quyết đối với 02 người con chung đã trưởng thành là anh H và chị K; về tài sản chung, nợ chung, bà T trình bày bà T và ông P tự thỏa thuận và không yêu cầu giải quyết. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật ly hôn là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Ông P là bị đơn, có địa chỉ thường trú tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà T vắng mặt nhưng có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; ông P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do và không thuộc trường hợp sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, việc vắng mặt cũng không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông P là những người có đủ điều kiện kết hôn, hai người đã tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện C cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 23/02/2010, nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông P là hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, bà T trình bày trong quá trình chung sống giữa hai người có sự bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, kinh tế gia đình không ổn định, ông P không lo làm ăn, không lo kinh tế gia đình, không quan tâm vợ con, thích di chơi giao du với bạn bè, vì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh ngày càng trầm trọng nên hai người đã ly thân với nhau, do nhận thấy không thể hàn gắn được tình cảm vợ chồng nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông P. Tại các Văn bản trình bày ý kiến đề các ngày 17 và 18/12/2021, anh H và chị K là con chung của bà T và ông P xác nhận: Anh, chị là con chung của bà T và ông P. Hiện nay, anh, chị được biết là bà T có nộp đơn xin ly hôn với ông P tại Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Về nguyên nhân bà T và ông P mâu thuẫn thì bà T cũng có kể sơ lược cho anh, chị nghe, theo đó giữa bà T và ông P phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, ông P không quan tâm đến bà T. Anh, chị cũng có nhiều lần khuyên bà T hàn gắn tình cảm vợ chồng với ông P nhưng không được. Sự xác nhận của anh H và chị K cho thấy việc giữa bà T và ông P có phát sinh mâu thuẫn vợ chồng theo như lời trình bày của bà T là sự việc có thật, do không khắc phục được mâu thuẫn vợ chồng nên bà T và ông P đã ly thân với nhau; mặc dù anh H và chị K là những người thân thích của bà T và ông P có khuyên nhủ nhưng hai người không thể hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Sau khi thụ lý vụ án, mặc dù ông P biết được việc bà T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông P nhưng trong những lần Tòa án mời hòa giải thì ông P đều vắng mặt, từ đó mà Tòa án đã không tiến hành hòa giải được; hiện nay, giữa bà T và ông P cũng không tìm ra được cách thức để hàn gắn tình cảm và khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng có thể đoàn tụ với nhau.

Như vậy, việc bà T và ông P phát sinh nhiều mâu thuẫn, mỗi người sống ở một nơi và không còn tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau cũng như thực hiện các quyền, nghĩa vụ khác của vợ chồng, mặc dù đã được gia đình hai bên khuyên nhủ và Tòa án hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không hàn gắn được cho thấy quan hệ hôn nhân giữa hai người đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hiện nay, bà T vẫn kiên quyết yêu cầu được ly hôn với ông P. Vì vậy, việc bà T yêu cầu được ly hôn với ông P là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và giải quyết cho bà T được ly hôn với ông P.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà T và ông P có với nhau 02 con chung là anh H sinh ngày 09/8/1994 và chị K sinh ngày 30/01/2001. Hiện nay, anh H và chị K đều đã thành niên và không thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động hoặc không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của pháp luật, bà T không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T trình bày bà T và ông P tự thỏa thuận và không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn: Bà T không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí sơ thẩm với số tiền 300.000đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà T được ly hôn với ông P. (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 24, quyển số: I/2009-2010, ngày đăng ký: 23/02/2010, do Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp)

1.2. Về con chung: 02 con chung là anh H sinh ngày 09/8/1994 và chị K sinh ngày 30/01/2001 hiện nay đều đã thành niên và không thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động hoặc không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của pháp luật, bà T không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà T trình bày bà T và ông P tự thỏa thuận và không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

1.4. Về cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn: Bà T không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí sơ thẩm với số tiền là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà bà T đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001471, ngày 24 tháng 11 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà T đã thực hiện xong nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ