vanban.org

Bản án 04/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

4 Điều 147; Các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự;

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà Đỗ Thị Cẩm Hường với ông Lê Kim Phùng"
  • Tòa quyết gì? 4 Điều 147; Các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 18-01-2022
V/v Ly hôn giữa bà H và ông P.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Đông Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Đặng Hồng Phước

Bà Nguyễn Thị Ngọc Thơ

-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Sơn là Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

Ngày 18 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 240/2021/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng

6 năm 2021 về “Ly hôn” theo Quyết định Đưa vụ án ra xét xử số

193/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2021 và Quyết định Hoãn

phiên tòa số 170/2021/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2021 giữa các

đương sự:

1.Nguyên đơn: Bà Đ T C H, sinh ngày 10-3-1989

Nơi cư trú: Tổ 21, ấp V T, xã V A, huyện C T, tỉnh An Giang.

Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 23-12-2021

2.Bị đơn: Ông L K P, sinh năm 1986

Nơi cư trú: Ấp H L 3, xã V L, huyện C T, tỉnh An Giang.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai ngày 17-5-2021 và Đơn xin xét xử

vắng mặt ngày 23-12-2021, nguyên đơn bà Đ T C H trình bày:

+Về hôn nhân: Bà và ông L K P kết hôn năm 2007, hôn nhân do quen biết,

có tổ chức đám cưới. Cho đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung

sống hạnh phúc thời gian đầu, cách nay khoảng 01 năm vợ chồng phát sinh mâu

thuẫn do bất đồng quan điểm sống, ông P nhậu nhẹt thường xuyên. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm với ông P, mục đích hôn nhân không đạt được, nên xin ly hôn với ông L K P.

+Về con chung: Có 02 con chung tên L T N T, sinh ngày 27-7-2008 và L T

N N, sinh ngày 28-6-2009. Hiện bà đang nuôi dưỡng. Nếu ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung.

+Về cấp dưỡng nuôi con: Bà không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.

+Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và

nhiều lần thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông L K P, nhưng ông P vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp chứng cứ, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Tại Tờ tự khai ngày 02-11-2021, cháu L T N T, sinh ngày 27-7-2008 trình

bày: Cháu đang sống với mẹ, cháu được đi học, cháu đang học lớp 8 trường Trung học Cơ sở V A, xã V A, huyện C T, tỉnh An Giang. Cha mẹ cháu không sống chung với nhau đã 2 năm nay rồi. Do cha cháu thường hay nhậu, không chăm lo gia đình; mẹ phải quán xuyến mọi việc trong gia đình. Cha mẹ hay cự cải, dẫn đến gia đình không hạnh phúc. Cả năm nay cha cháu không về thăm gia đình. Nếu cha mẹ cháu Ly hôn cháu có nguyện vọng sống với mẹ.

Tại Tờ tự khai ngày 02-11-2021, cháu L T N N, sinh ngày 28-6-2009 trình

bày: Cháu đang sống với mẹ, cháu được đi học, cháu đang học lớp 7 trường Trung học Cơ sở V A, xã V A, huyện C T, tỉnh An Giang. Cha mẹ cháu không sống chung với nhau đã 2 năm nay rồi. Do cha cháu thường hay nhậu, không chăm lo gia đình; mẹ phải quán xuyến mọi việc trong gia đình. Cha mẹ hay cự cải, dẫn đến gia đình không hạnh phúc. Cả năm nay cha cháu không về thăm gia đình. Nếu cha mẹ cháu Ly hôn cháu có nguyện vọng sống với mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn bà Đ T C H, bị đơn ông L K P,

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa; nguyên đơn bà H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông P vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung đối với nguyên đơn bà H và bị đơn ông P.

[2] Về hôn nhân: Bà Đ T C H và ông L K P kết hôn vào năm 2007, hôn

nhân do quen biết, có tổ chức đám cưới. Cho đến nay vẫn không đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó hôn nhân của bà H và ông P vi phạm Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ vào quy định tại Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì hôn nhân của bà H và ông P không được pháp luật thừa nhận. Do đó, nghĩ

nên tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Đ T C H và ông L K P

là phù hợp.

[3] Về con chung: Bà Đ T C H và ông L K P có 02 con chung hiện bà H

đang nuôi con.

Xét thấy: Cháu T và cháu N đã trên 12 tuổi, hiện đang học lớp 7 và lớp 8

trường Trung học Cơ sở V A, xã V A, huyện C T, tỉnh An Giang; cả hai cháu

đều có nguyện vọng sống với bà H khi bà H và ông P ly hôn. Đối chiếu với quy

định của pháp luật tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm

2014. Vì vậy, để không làm thay đổi cuộc sống cũng như sự phát triển tâm sinh

lý của hai cháu; Hội đồng xét xử xét thấy nên để cho bà H được tiếp tục nuôi

dưỡng hai con chung là phù hợp.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Đ T C H không yêu cầu ông L K P cấp

dưỡng nuôi con; ông P không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Đ T C H trình bày không có, không yêu

cầu Tòa án giải quyết. Ông L K P không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử

không xem xét.

[6] Về án phí: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 4 Điều 147

của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số

326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội

khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí

và lệ phí Toà án, nguyên đơn bà Đ T C H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân

gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo

biên lai thu số 0007396 ngày 31-5-2021 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện

Châu Thành, tỉnh An Giang.

[7] Về quyền kháng cáo: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại Điều 271

và Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn bà Đ T C H, bị đơn ông

L K P vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ

ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản

4 Điều 147; Các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự;

Các Điều 9, 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14

ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức

thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

Xử:

[1] Về hôn nhân: không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Đ T C H và

ông L K P.

[2] Về con chung: Bà Đ T C H được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên

L T N T, sinh ngày 27-7-2008 và L T N N, sinh ngày 28-6-2009.

Bà Đ T C H và các thành viên trong gia đình bà H không được cản trở ông

L K P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định tại khoản 2 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Ông L K P lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu

đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà H có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của ông P theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về án phí: Nguyên đơn bà Đ T C H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân

gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007396 ngày 31-5-2021 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

[4] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Đ T C H, bị đơn ông L K P vắng

mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ