vanban.org

Bản án 04/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Đinh Văn Q được ly hôn với chị Mùi Thị Thu M.

Về con chung: Giao cháu Đinh Thị Ánh T, sinh ngày 20/02/2014 cho anh Đinh Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chị Mùi Thị Thu M không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà khô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mùi Văn Q, Mùi Thị Thu M - Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Đinh Văn Q được ly hôn với chị Mùi Thị Thu M.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2022/HNGĐ-ST
Ngày 26-01- 2022
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Quàng Văn Thủy;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hợi và bà Nguyễn Thị Tuyết.

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Viên là Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà : Ông Nguyễn Thế Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 16/2021/TLST- HNGĐ, ngày 28 tháng 12 năm 2021 về Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: anh Đinh Văn Q; Nơi cư trú: Bản T, xã T, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La; vắng mặt có lý do, xin giải quyết, xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: chị Mùi Thị Thu M; Nơi cư trú: Bản T, xã T, huyện B, tỉnh Sơn La; vắng mặt có lý do, xin giải quyết, xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 27/12/2021, bản tự khai nguyên đơn là anh Đinh Văn Q trình bày: Anh và chị Mùi Thị Thu M tìm hiểu và đi đến kết hôn có đăng ký kết hôn ngày 12/3/2013 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Sơn La trên cơ sở tự nguyện. Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân của mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống chung không thể hòa hợp, trong cuộc sống thường xuyên sảy ra cãi vã; hai vợ chồng bắt đầu sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Khi phát sinh mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành. Đến nay, anh Q nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn chị M.

Về con chung: Trong thời gian chung sống anh Q và chị M có một con chung là cháu Đinh Thị Ánh T, sinh ngày 20/02/2014, cháu hiện đang ở với với anh Q. Anh Q có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu cho đến khi cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi và không yêu cầu chị Mùi Thị Thu M

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án.

Về vay nợ chung: Vợ chồng không vay nợ của ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án.

Do điều kiện hoàn cảnh đi làm ăn xa, tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp anh Q không thể về để giải quyết việc Ly hôn, do đó anh Đinh Văn Q có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt.

Tại bản tự khai bị đơn là chị Mùi Thị Thu M trình bày: Chị và anh Đinh Văn Q đăng ký kết hôn ngày 12/3/2013 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Sơn La trên cơ sở tự nguyện. Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân của mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, thương xuyên hay cãi vã làm cho cuộc sống chung luôn căng thẳng, không thể nào sống chung với nhau được; vợ chồng bắt đầu sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Khi phát sinh mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành. Đến nay, chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Q.

Về con chung: Trong thời gian chung sống anh Q và chị M có một con chung là cháu Đinh Thị Ánh T, sinh ngày 20/02/2014. Chị M có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu, nếu anh Q không nhất trí thì chị Miền đề nghị Tòa án xem xét quyết định việc giao con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án.

Về vay nợ chung: Vợ chồng không vay nợ của ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án.

Do điều kiện, hoàn cảnh đi làm ăn xa, việc đi lại khó khăn, dịch bệnh phức tạp, chị M không thể về để giải quyết việc Ly hôn, do đó chị Mùi Thị Thu M có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt.

Tại biên bản lấy ý kiến ngày 29/12/2021 cháu Đinh Thị Ánh T, có sự chứng kiến của giáo viên chủ nhiệm và xác nhận của nhà trường nơi cháu đang học tập, nguyện vọng của cháu được ở với bố là anh Đinh Văn Q.

Do các bên đương sự có đơn yêu cầu không mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải. Vì vậy Tòa án không tiến hành mở piên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Đại diện Viện kiểm sát ý kiến: Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, nguyên đơn, bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt có lý do điều kiện, hoàn cảnh đi làm ăn xa, diễn biến dịch bệnh phức tạp, việc đi lại khó khăn có đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt. Tòa án đã tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung thực hiện theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 53, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ, khoản 1, điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đinh Văn Q, yêu cầu ly hôn với chị Mùi Thị Thu M; giao cháu Đinh Thị Ánh T, sinh ngày 20/02/2014 cho anh Đinh Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chị M không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết; đương sự được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Theo đơn khởi kiện và yêu cầu, đề nghị của các đương sự. Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Ly hôn” do nguyên đơn anh Đinh Văn Q khởi kiện đối với bị đơn chị Mùi Thị Thu M có nơi cư trú bản T, xã T, huyện B, tỉnh Sơn La. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La.

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Đinh Văn Q và bị đơn chị Mùi Thị Thu M đã được thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng hai bên đương sự đều có đơn xin giải quyết, xét xử vắng có lý do, nên Tòa án không tiến hành thủ tục hòa giải và quyết định xét xử vắng mặt anh Đinh Văn Q, chị Mùi Thị Thu M theo quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Đinh Văn Q và chị Mùi Thị Thu M có đăng ký kết hôn ngày 12/3/2013 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Sơn La trên cơ sở tự nguyện. Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân của mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống chung không thể hòa hợp, trong cuộc sống thường xuyên sảy ra cãi vã; hai vợ chồng bắt đầu sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Khi phát sinh mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành. Nhận thấy, từ năm 2019 đến nay anh Q và chị M không còn chung sống với nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bản thân chị M cũng xác định không còn tình cảm với anh Q, và xin được ly hôn với anh Q. Do vậy, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Q và chị M.

Về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung: Trong thời gian chung sống, anh Đinh Văn Q và chị Mùi Thị Thu M có một người con chung là cháu Đinh Thị Ánh T, sinh ngày 20/02/2014, hiện tại cháu Đinh Thị Ánh T đang ở chung cùng bố và ông bà nội, anh Q có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cháu, không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con chung. Bản thân chị M cũng có mong muốn nuôi con nhưng hiện tại cháu Đinh Thị Ánh T đang ở với bố, cháu có nguyện vọng mong muốn ở với bố, nên cần xem xét, tôn trọng quyết định của cháu. Cháu Đinh Thị Ánh T là người chưa thành niên (dưới 18 tuổi) khi anh Q và chị M không còn chung sống cần xem xét phân chia trách nhiệm nuôi con chung, tuy nhiên việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên và xem xét nguyện vọng của con do cháu Đinh Thị Ánh T đã trên 7 tuổi, cháu Đinh Thị Ánh T có nguyện vọng được ở với bố, hiện tại cháu đang ở cùng bố, anh Q có đầy đủ khả năng, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức. Do đó, để đảm bảo sự ổn định, lợi ích mọi mặt của cháu Đinh Thị Ánh T, cần giao cháu Đinh Thị Ánh T cho anh Đinh Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi theo quy định tại Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chị Mùi Thị Thu M không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ chăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Anh Đinh Văn Q và chị Mùi Thị Thu M đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về tài sản chung trong vụ án.

Về vay nợ chung: Anh Đinh Văn Q và chị Mùi Thị Thu M xác định không có nợ chung, đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Quyết định 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Ủy ban dân tộc phê duyệt danh sách thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025, thì anh Đinh Văn Q và chị Mùi Thị Thu M là người dân tộc thiểu số sinh sống tại bản T, xã T, huyện B, tỉnh Sơn La là bản có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do vậy Tòa cần xem xét miễn án phí cho các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Khoản 1 Điều 51, Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Đinh Văn Q được ly hôn với chị Mùi Thị Thu M.

2. Về con chung: Giao cháu Đinh Thị Ánh T, sinh ngày 20/02/2014 cho anh Đinh Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chị Mùi Thị Thu M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về tài sản chung và vay nợ chung: Đương sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết trong vụ án.

4. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho các đương sự.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án theo quy định chung của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ