vanban.org

Bản án 04/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Thanh D.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Thanh D được ly hôn với anh Trần Tấn S. Về con chung: Giao cho chị Trương Thị Thanh D được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Trần Thị Thu T, sinh ngày 15/10/2007 cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa chị D với anh S"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Thanh D.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NĂNG
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2022/HNGĐ-ST
Ngày 04 tháng 5 năm 2022
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Thanh Hoàng.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Đăng Huấn.

2. Bà Nguyễn Thị Chinh.

Thư ký phiên tòa: Ông Lương Công Hà, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng tham gia phiên tòa: Bà Lê Trịnh Xuân Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 5 năm 2022, Tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 13/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 04 năm 2022 giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Chị Trương Thị Thanh D - (có mặt).

Địa chỉ: Thôn X, xã P, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

+ Bị đơn: Anh Trần Tấn S - (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn X, xã P, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 29/12/2021, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trương Thị Thanh D trình bày: Chị Trương Thị Thanh D và anh Trần Tấn S kết hôn vào ngày 06/01/2003 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Cuộc sống chung của vợ chồng sau khi kết hôn không có hạnh phúc, anh S thường xuyên đánh đập, chửi bới, xúc phạm chị D. Anh Trần Tấn S không tu trí làm ăn, bán hết tài sản của vợ chồng để trả nợ. Đến năm 2012, anh Trần Tấn S đã bỏ đi khỏi địa phương đến nay không có tin tức gì. Chị D đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh S mất tích theo quy định pháp luật. Tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 20/2021/QĐST-DS ngày 26/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng đã tuyên bố anh Trần Tấn S mất tích. Nay chị D xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị D mong muốn ổn định cuộc sống nên chị D xin ly hôn với anh Trần Tấn S.

Về con chung: Trong quá trình chung sống chị D và anh S có 02 con chung gồm cháu Trần Tấn T, sinh 02/10/2003 và cháu Trần Thị Thu T, sinh ngày 15/10/2007. Hiện nay, cháu T đã đủ 18 tuổi nên chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị D có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T đến khi đủ 18 tuổi. Chị D không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung cho chị.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trương Thị Thanh D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về Tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Toà án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền, thủ tục tố tụng. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Trương Thị Thanh D chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của đương sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Thanh D, xử:

Quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Thanh D được ly hôn với anh Trần Tấn S.

Về con chung: Giao cháu Trần Thị Thu T, sinh ngày 15/10/2007 cho chị Trương Thị Thanh Du trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Đối với cháu Trần Tấn T, sinh 02/10/2003 đã đủ tuổi thành niên, ở với ai là quyền của cháu nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị Trương Thị Thanh D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Trương Thị Thanh D với anh Trần Tấn S là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và anh S đã bỏ đi khỏi địa phương, không có tin tức gì, nên chị D đã khởi kiện xin ly hôn anh Sỹ tại Tòa án. Như vậy, tranh chấp giữa chị D và anh S là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn làm đơn khởi kiện đúng quy định và đã đóng tạm ứng án phí. Bị đơn có nơi cư trú tại thôn X, xã P, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk nên Tòa án nhân dân huyện Krông Năng đã thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 195 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

. Về thủ tục tố tụng: Do anh Trần Tấn S đã bị Tòa án tuyên bố mất tích và hiện nay không biết anh S ở đâu, làm gì nên Tòa án căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh S.

. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

. Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh S là hợp pháp. Tuy nhiên sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hòa thuận cho đến năm 2012 thì anh S bỏ đi khỏi địa phương cho đến nay không có tin tức gì. Năm 2021, chị D đã có yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Krông Năng tuyên bố mất tích đối với anh Trần Tấn S và Tòa án đã tuyên bố anh S mất tích. Kể từ ngày Tòa án tuyên bố mất tích cho đến nay anh S không quay về và cũng không có ai yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố anh S mất tích. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị D với anh S đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy cần căn cứ vào khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết cho chị D được ly hôn anh S nhằm đảm bảo cho quyền và lợi ích hợp pháp của chị D.

. Về con chung: Chị D với anh S có 02 con chung là cháu Trần Tấn T, sinh 02/10/2003 và cháu Trần Thị Thu T, sinh ngày 15/10/2007.

Đối với cháu Trần Thị Thu T hiện nay đang sinh sống với chị D và cháu T có nguyện vọng xin được ở với chị D, anh S đã bỏ đi khỏi địa phương nên Hội đồng xét xử cần giao cháu T cho chị D có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành để đảm bảo sự phát triển toàn diện của cháu T. Đối với cháu Trần Tấn T đã đủ tuổi thành niên nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Trường hợp anh S quay về hoặc chị D có tin tức xác thực về nơi cư trú của anh S, thì chị D và anh S có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trương Thị Thanh D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

. Về phân chia tài sản chung và nợ chung: Chị Trương Thị Thanh D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

Về án phí: Chị Trương Thị Thanh D phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 195; Điều 227; Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Khoản 2 Điều 68 Bộ luật dân sự;

Áp dụng Điều 51; khoản 2 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Thanh D.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Thanh D được ly hôn với anh Trần Tấn S.

- Về con chung: Giao cho chị Trương Thị Thanh D được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Trần Thị Thu T, sinh ngày 15/10/2007 cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Anh Trần Tấn S có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con thì phải làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị Trương Thị Thanh D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Năng theo biên lai thu số 60AA/2021/0003221 ngày 04 tháng 01 năm 2022.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ