- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "không công nhận vợ chồng Dương Thị Mỹ A"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Mỹ A.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2022/HNGĐ-ST Ngày: 26-01-2022 V/v tranh chấp yêu cầu không công nhận vợ chồng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kim Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Thành Nhân.
2. Bà Cao Thị Loan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phạm Vân Trang là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 26 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 285/2021/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2021 về tranh chấp yêu cầu không công nhận vợ chồng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2021/QĐXX-ST ngày 16 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Dương Thị Mỹ A, sinh năm 1995
Trú tại: số 29/7, đường G, Phường S, thành phố M, tỉnh Tiền Giang
2. Bị đơn: Anh Lê Quốc T, sinh năm 1984
Trú tại: số 361, đường T, Phường S, thành phố M, tỉnh Tiền Giang
(Có mặt chị A, vắng mặt anh T)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện yêu cầu không công nhận vợ chồng ngày 17 tháng 4 năm 2021 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Dương Thị Mỹ A trình bày:
Chị Dương Thị Mỹ A và anh Lê Quốc T quen biết và sống chung như vợ chồng vào năm 2018, có tổ chức đám cưới nhưng không có đăng ký kết hôn. Cuộc sống chung đến tháng 8 năm 2020 thì phát sinh nhiều mâu thuẩn, anh chị sống không hòa hợp, không thể sống chung nữa. Chị A đã về nhà cha mẹ ruột sống từ tháng 8 năm 2020 đến nay. Nay chị A yêu cầu không công nhận chị A và anh T là vợ chồng.
Về con chung: anh chị không có con chung
Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị A và anh T không có nợ chung.
• Tại bản tự khai ngày 07 tháng 12 năm 2021, bị đơn anh Lê Quốc T trình bày: anh T có nhận thông báo số 287/2021/TLST-HNGĐ về việc “tranh chấp ly hôn” của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho. Anh chưa đồng ý về việc tài sản chung. Chị Dương Thị Mỹ A là người ngoại tình, anh sẽ gửi bằng chứng khi cần. Tài sản chung anh sẽ liệt kê, tổng hợp rồi gửi vào ngày 10/12/2021.
NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Quan hệ tranh chấp giữa chị Dương Thị Mỹ A và anh Lê Quốc T là quan hệ tranh chấp yêu cầu không công nhận vợ chồng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 8 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Bị đơn là anh Lê Quốc T được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]Xét thấy, chị Dương Thị Mỹ A và anh Lê Quốc T chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2018, có tổ chức đám cưới vào ngày 27/10/2018 mà không đăng ký kết hôn là vi phạm khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình nên pháp luật không công nhận họ là vợ chồng.
[4] Về con chung: anh T và chị A khai không có con chung nên không đặt ra xem xét.
[5] Về tài sản chung: Anh T có ý kiến sẽ liệt kê tài sản chung, tổng hợp rồi gửi cho Tòa án vào ngày 10/12/2021. Tuy nhiên, sau ngày 10/12/2021, anh T không có văn bản liệt kê về tài sản chung và cũng không có ý kiến gì về phần tài sản chung. Chị A yêu cầu để anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về nợ chung: chị A khai anh T và chị A không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Về án phí: chị Dương Thị Mỹ A phải chịu theo qui định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân gia đình.
- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Mỹ A.
Không công nhận chị Dương Thị Mỹ A và anh Lê Quốc T là vợ chồng.
Về con chung: chị Dương Thị Mỹ A và anh Lê Quốc T khai không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: chị Dương Thị Mỹ A và anh Lê Quốc T tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Dương Thị Mỹ A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị A đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005658 ngày 23/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, chuyển thành án phí hôn nhân sơ thẩm.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đối với anh T vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Kim Hằng |