vanban.org

Bản án 04/2021/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Lê Thị Th được ly hôn anh Tạ Đình C.

Về con chung: Giao con Tạ Quang Th sinh ngày 17-10 -2015 cho chị Lê Thị Th trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến khi đủ tròn 18 tuổi; Anh Tạ Đình C không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Lê Thị Th được ly hôn anh Tạ Đình C.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2021/HNGĐ-ST
Ngày 24/03/2021
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Văn Tư.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đăng Thanh và ông Nguyễn Quốc Trị

- Thư ký phiên tòa:Bà Lê Thị Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 03 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 72/2020/TLST-HNGĐ ngày 05-11-2020 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/02/2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:Chị Lê Thị Th, sinh năm: 1992; Nơi ĐKHKTT và chổ ở: Thôn X, xã X, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, ( có mặt)

2. Bị đơn: Anh Tạ Đình C; sinh năm: 1991; Nơi ĐKHKTT: Thôn X, xã X, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Chị Lê Thị Th trình bày: Chị và anh Tạ Đình C kết hôn với nhau vào ngày 22/12/2014 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đã được hai bên gia đình và UBND xã Nghi Mỹ, huyên Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau được 02 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do Tạ Đình C không tu chí làm ăn, lại chơi bời lêu lổng, lô đề, rượu chè thường xuyên gây mâu thuẫn trong gia đình. Hiện Lê Thị Th xác định không còn tình cảm với Tạ Đình C nữa, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng nên yêu cầu Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Tạ Đình C. Về con chung, quá trình chung sống vợ chồng có 01 con là Tạ Quang Th, sinh ngày 17-10-2015, từ khi vợ chồng ly thân, con do Lê Thị Th trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Để không làm xáo trộn cuộc sống của con, nay ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh Tạ Đình C cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Lê Thị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Tạ Đình C trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử hôm nay, đều không hợp tác, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Tòa án đã tiến hành rất nhiều biện pháp để đề nghị Tạ Đình C phối hợp nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp; tuy nhiên, Tạ Đình C không thường xuyên không có mặt tại địa phương; vì vậy Tòa án không tiến hành làm việc để lấy lời khai cũng như hòa giải giữa vợ chồng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tung nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không thể đạt được, vì vậy căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Lê Thị Th được ly hôn anh Tạ Đình C. Về con chung: Đề nghị căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao con Tạ Quang Th sinh ngày 17-10-2015 cho chị Lê Thị Th trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng; Lê Thị Th không yêu cầu Tạ Đình Ccấp dưỡng tiền nuôi con nên đề nghị HĐXX không xem xét. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên đề nghị HĐXX không xem xét. Về án phí: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị Lê Thị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nội dung vụ án, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, anh Tạ Đình C có hộ khẩu thường trú tại xã Kỳ Lợi, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Anh Tạ Đình C thường xuyên hay vắng mặt tại địa phương nên Tòa án đã niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa. Bị đơn anh Tạ Đình C vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa, căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo thủ tục chung.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị Lê Thị Th và anh Tạ Đình C kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nghi Mỹ, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Lê Thị Th cho rằng nguyên nhân mâu do Tạ Đình C không tu chí làm ăn, lại chơi bời lêu lổng, lô đề, rượu chè gây mâu thuẫn trong gia đình. Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án Tạ Đình C, không có mặt theo giấy triệu tập cũng như các lần hòa giải của Tòa án. Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng giữa Lê Thị Th và Tạ Đình C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không thể đạt được vì vậy căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Lê Thị Th được ly hôn anh Tạ Đình C.

Về con chung: Vợ chồng có 01 chung là Tạ Quang Th, sinh ngày 17-10-2015từ trước đến nay con do Lê Thị Th trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng nay vợ chồng ly hôn, xét nguyện vọng của Lê Thị Th muốn được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con, Lê Thị Th không yêu cầu Tạ Đình C cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao con Tạ Quang Th sinh ngày 17-10-2015 cho chị Lê Thị Th trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến khi đủ tròn 18 tuổi, ghi nhận sự tự nguyện của Lê Thị Th về việc không yêu cầu Tạ Đình C cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Lê Thị Th là nguyên đơn trong vụ án hôn nhân nên phải nộp án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và theo điểm a Khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Lê Thị Th được ly hôn anh Tạ Đình C.

2. Về con chung: Giao con Tạ Quang Th sinh ngày 17-10 -2015 cho chị Lê Thị Th trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến khi đủ tròn 18 tuổi; Anh Tạ Đình C không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Chị Lê Thị Th phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số AA/2016/ 0007155 ngày 04 tháng 11 năm 2020 của Chi cục thi hành án thị xã Kỳ Anh, tiền án phí chị Nga đã nộp đủ.

4. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn chị Lê Thị Th có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn anh Tạ Đình C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ