- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Đình Q phạm tội "Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 36 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC HÀ TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 04/2021/HSST |
Ngày: 16/3/2021
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC HÀ - HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Lâm
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Khắc Diện; Ông Phan Tùng Long.
- Thƣ ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Thủy.
- Đại diện VKSND huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà:
Ông Lê Trọng Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 3 năm 2021 tại hội trƣờng xét xử, Tòa án nhân dân huyện Lộc Hà đƣa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2020/TLST-HS ngày 27/01/2021 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 04/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Trần Đình Q - Tên gọi khác: Không
Sinh ngày: 17/9/2000, tại xã H, huyện L, tỉnh H1.
Nơi cƣ trú: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh H1.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12
Con ông: Trần Đình D - Sinh năm 1959 và bà: Trƣơng Thị T1 - Sinh năm 1960.
Vợ, con: Chƣa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cƣ trú”.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Người bị hại: Anh Trƣơng Văn V - Sinh ngày: 27/4/1998 (Vắng mặt)
Trú tại: Thôn V, xã H, huyện L, tỉnh H1.
Nghề nghiệp: Sinh viên.
Người đại diện theo ủy quyền của người bị hại:
Ông Trƣơng Văn T2 - Sinh ngày: 07/5/1967 (Có mặt)
Trú tại: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh H1
Nghề nghiệp: Xây dựng.
Người làm chứng:
Anh Trƣơng Quang K - Sinh ngày: 10/10/1997 (Có mặt)
Trú tại: Thôn V, xã H, huyện L, tỉnh H1.
Ông Trƣơng Quang T3- Sinh năm: 1972 (Có mặt)
Trú tại: Thôn V, xã H, huyện L, tỉnh H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng 01 giờ ngày 22/12/2020, sau khi đi chơi về thì do trời đã khuya nên Trần Đình Q một mình đi đến nhà bạn là Trƣơng Quang Q1 ở thôn V, xã H, huyện L, tỉnh H1 để ngủ nhờ vì cũng đã nhiều lần Trần Đình Q đến đây để ngủ. Khi đến nơi thì anh Trƣơng Quang Q1 không có ở nhà, cửa nhà không đóng, đèn trong nhà bật sáng nên Trần Đình Q lên tầng hai định đi ngủ, thì thấy trên giƣờng có anh Trƣơng Quang K (em trai anh Trƣơng Quang Q1) và anh Trƣơng Văn V đang ngủ. Quan sát thấy hai ngƣời đang ngủ say và thấy có 01 chiếc điện thoại Iphone X của anh V đang cắm sạc pin để ở trên giƣờng, nên Trần Đình Q nảy sinh ý định lấy trộm chiếc điện thoại trên để bán lấy tiền tiêu xài. Trần Đình Q đi về phía giƣờng ngủ rồi rút dây sạc pin và lấy trộm chiếc điện thoại của anh V rồi đƣa về nhà mình ở thôn T, xã H, huyện L, tỉnh H1. Khi về đến nhà, Trần Đình Q mở máy điện thoại vừa lấy trộm đƣợc ra kiểm tra thì thấy có cuộc gọi đến. Nghĩ là chủ của chiếc điện thoại gọi đến và sợ bị phát hiện nên Q tắt nguồn điện thoại đem sang nhà bà Phạm Thị T4 là hàng xóm cất giấu dƣới chiếc sập bằng bê tông phía sau vƣờn. Khoảng 09 giờ ngày 22/12/2020 thì Công an xã Hộ Độ phát hiện sự việc và lập biên bản thu giữ chiếc điện thoại trên.
Tại thông báo kết quả định giá tài sản số 24/TB-ĐGTS ngày 24/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lộc Hà kết luận: Chiếc điện thoại di động Iphone X màu xám bạc, số IMEI 354850098127863, máy cũ đã qua sử dụng có giá là 8.000.000 đồng.
Xét thấy không ảnh hƣởng đến việc giải quyết vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X cho đại diện theo ủy quyền của ngƣời bị hại là ông Trƣơng Văn T3.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại điện thoại, đại diện ngƣời bị hại không có yêu cầu gì về bồi thƣờng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Đình Q khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai ngƣời bị hại, lời khai ngƣời làm chứng và các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Hà thu thập trong quá trình điều tra vụ án.
Bản cáo trạng số 04/CT-VKSLH ngày 26/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Trần Đình Q về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Hành vi của bị cáo Trần Đình Q có đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trần Đình Q về tội Trộm cắp tài sản và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 36 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Đình Q từ 09 (Chín) đến 12 (Mƣời hai) tháng Cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo cho UBND xã H, huyện L, tỉnh H1 giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt.
Lời nói sau cùng của bị cáo Trần Đình Q: Bị cáo đã nhận thức đƣợc hành vi của mình là vi phạm pháp luật; bị cáo rất ăn năn, hối cải; bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo đƣợc tự cải tạo tại địa phƣơng. Bị cáo xin hứa từ nay về sau sẽ tự rèn luyện bản thân, không vi phạm pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo Trần Đình Q trƣớc phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của ngƣời bị hại, lời khai ngƣời làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh thu thập trong quá trình khởi tố, điều tra vụ án. Do đó HĐXX đã có đủ chứng cứ để kết luận:
Khoảng hơn 01 giờ ngày 22/12/2020, tại nhà anh Trƣơng Quang Q1 ở thôn V, xã H, Trần Đình Q đã có hành vi lén lút lấy trộm chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone X trị giá 8.000.000 đồng của anh Trƣơng Văn V và đƣa đi cất giấu dƣới chiếc sập bằng bê tông phía sau vƣờn nhà bà Phạm Thị T4 ở thôn T, xã H, huyện L, tỉnh H1 thì bị Công an xã Hộ Độ phát hiện và thu giữ.
Hành vi của bị cáo Trần Đình Q đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại khoản 1 điều 173 BLHS.
Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng...thì bị phạt cải tạo không giam gữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Xét tính chất vụ án, HĐXX xét thấy đây là vụ án “Trộm cắp tài sản” gây hậu quả ít nghiêm trọng. Tuy nhiên vụ án xảy ra trong bối cảnh tình hình tội phạm có chiều hƣớng gia tăng, gây dƣ luận không tốt trong quần chúng nhân dân, ảnh hƣởng đến an ninh trật tự tại địa phƣơng. Do đó cần phải áp dụng khoản 1 điều 173 BLHS xử phạt bị cáo mức hình phạt đủ nghiêm, tƣơng xứng với hành vi phạm tội để bị cáo rèn luyện bản thân trở thành công dân lƣơng thiện đồng thời có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì bị cáo Trần Đình Q thực hiện hành vi phạm tội không thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào đƣợc quy định tại điều 52 BLHS.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì bị cáo Trần Đình Q đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ TNHS: "Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng"; "Thành khẩn khai báo", đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 điều 51 BLHS. Ngoài ra đại diện của ngƣời bị hại và chính quyền địa phƣơng có đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại khoản 2 điều 51 BLHS cần áp dụng cho bị cáo.
Xét về nhân thân thì bị cáo Trần Đình Q có nhân thân tốt, trƣớc khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự.
Sau khi xem xét, đánh giá tính chất vụ án và hậu quả của tội phạm, động cơ, mục đích phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, HĐXX xét thấy chƣa cần thiết phải cách ly bị cáo Trần Đình Q ra khỏi xã hội mà áp dụng khoản 1 điều 173, khoản 1, khoản 2 điều 36 BLHS cho bị cáo đƣợc tự cải tạo dƣới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phƣơng cũng đủ điều kiện để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa chung. Do bị cáo chƣa có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng cho bị cáo theo quy định tại khoản 3 điều 36 BLHS.
Về trách nhiệm dân sự: Ngƣời đại diện theo ủy quyền của ngƣời bị hại không có yêu cầu gì về bồi thƣờng dân sự, do đó HĐXX miễn xét.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Hà đã giải quyết theo thẩm quyền, do đó HĐXX miễn xét.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Đình Q phạm tội "Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; khoản 1, khoản 2 điều 36 BLHS, xử phạt bị cáo Trần Đình Q: 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn Cải tạo không giam giữ đƣợc tính từ ngày cơ quan, tổ chức đƣợc giao giám sát giáo dục ngƣời bị kết án nhận đƣợc quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Trần Đình Q cho UBND xã H, huyện L, tỉnh H1và gia đình quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt.
Trong trƣờng hợp ngƣời bị kết án thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 100 và đều 68 Luật thi hành án hình sự.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 135; khoản 2 điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH và danh mục mức án phí, lệ phí toà án ban hành kèm theo, xử buộc: Bị cáo Trần Đình Q phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
Bị cáo và ngƣời đại diện theo ủy quyền của ngƣời bị hại đƣợc quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh để xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. NƠI NHẬN:
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND Cấp cao;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Phòng Nghiệp vụ TAND tỉnh;
- Công an huyện Lộc Hà (2 bản);
- VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
- VKSND huyện Lộc Hà ;
- Sở Tƣ pháp tỉnh Hà Tĩnh;
- UBND xã H;
- Chi cục THA dân sự huyện Lộc Hà;
- THA hình sự;
Phan Văn Lâm
- Bị cáo; ngƣời bị hại;
- Lƣu văn phòng.