vanban.org

Bản án 04/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 22/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bàn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Bàn Văn H phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đồng tiền án p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Bàn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bàn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2021/HS-ST
Ngày: 22 -01-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ – LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đình Đạo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Trọng Hà và bà Phan Minh Đăng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nghiêm Văn Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ

- Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông H Trung Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Đ – tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2020/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2021 đối với:

-Bị cáo: Bàn Văn H - sinh ngày 19 tháng 9 năm 1997, tại Lâm Đồng.

Nơi cư trú: Tổ dân phố A, TT. Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Dao; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bàn Văn L, sinh năm 1973 và bà Sầm Thị B, sinh năm 1973; Vợ: Đặng Thị Kim T, sinh năm: 1996, con: 01 con Bàn Bảo K, sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 07/10/2019, Uỷ ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 1.500.000đồng về hành vi trộm cắp tài sản (đã chấp hành ngày 07/10/2019)

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/10/2020 hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện Đ. “Có mặt”.

*Ngƣời bị hại

1. Ông: Đỗ Văn T1, sinh năm: 1985

Địa chỉ: Tổ dân phố B, TT. Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (Có đơn xin vắng mặt)

2. Ông: Lƣơng H, sinh năm: 1970

Địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (Có đơn xin vắng mặt)

3. Ông: Phạm Văn L1, sinh năm: 1966

Địa chỉ: Thôn D, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (Có đơn xin vắng mặt)

4. Ông: Mai Thị Đ1, sinh năm: 1963

Địa chỉ: Thôn D, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (Có đơn xin vắng mặt)

* Ngƣời làm chứng

1. Anh: Triệu Văn P, sinh năm: 2004

Địa chỉ: Tổ dân phố A, TT. Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (Vắng mặt không có lý do)

2. Anh: Nông Văn T2, sinh năm: 2005

Địa chỉ: Tổ dân phố A, TT. Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (Vắng mặt không có lý do)

3. Anh: Trần Văn T3, sinh năm: 1986

Địa chỉ: Thôn E, xã M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (Vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 12/10/2020, Bàn Văn H đang chơi ở quảng trường Đ thì gặp bạn là Triệu Văn P và Nông Văn T2, cùng trú tại TDP A, TT. Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Sau đó, H rủ P và T2 đi dạo, P chở H còn T2 đi xe một mình vào hướng xã Mỹ Đức, huyện Đ. Khi đến cổng trường Phổ thông Trung học Q, huyện Đ thì H nói với P đi vào đường liên xã từ xã M qua xã Q để xem nhà nào có nuôi gà thì tối vào bắt trộm. Lúc này, P không nói gì và đi theo hướng dẫn của H, T2 cũng đi theo. Khi đi qua cầu máng một đoạn khoảng 100m, gặp ngã tư đường bê tông thuộc Thôn D, xã Q, huyện Đ, H nói với P rẽ về phía bên phải để đi. Tuy nhiên, P lại rẽ về bên tay trái đi vào được khoảng 200m thì H thấy một nhà dân phía bên tay phải có nuoi gà, H nói “nhà này nuôi nhiều gà để tối vào lấy” và nói P đi về lại thị trấn Đ, P không nói gì mà tiếp tục đi ra đường liên xã Q về lại Quảng trường Đ và chở H vào hồ Đạ Hàm, ở xã A1, huyện Đ để tắm. Sau khi chở H vào hồ Đạ Hàm, P và T2 đi về nhà, còn H ở lại tắm, giặt quần áo. Khoảng 16 giờ cùng ngày, H đi vào phía trong đập Đạ Hàm thấy một chiếc xe máy loại Dream, nhãn hiệu HADOSIVA, màu nâu, biển kiểm soát 49S9-1963, xe không có bửng, không gương chiếu hậu để tại mặt đập, có chìa khoá trên ổ khoá nên nảy sinh ý định và thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xa máy trên. Sau khi lấy trộm được chiếc xe máy, H điều khiển xe máy vào đèo Con Ó ở Thôn F, xã M, huyện Đ để chơi, Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, H đi qua xã Q, huyện Đ để trộm cắp tài sản. Nhưng khi đến ngã ba vào hồ Đ, thuộc Thôn 5, xã Mỹ Đức, huyện Đ thì xe bị thủng xăm, H vào tiệm sửa xe của anh Trần Văn T3 để sửa và hẹn sáng hôm sau vào lấy lại xe. Sau đó, H đi bộ lên trên đập hồ Đ thì thấy có nhiều xe máy không có người trông coi nên đã nảy sinh ý định và thực hiện hành vi trộm cắp một chiếc xe máy, loại Dream, nhãn hiệu XIONGSHI. Lúc này, H đấu dây diện đạp nổ xe máy điều khiển đi qua xã Q để tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Khoảng 23 giờ 50 phút cùng ngày, khi đi qua cầu máng thuộc Thôn D, xã Q, huyện Đ khoảng 100m, H để xe máy ngoài đường rồi vào nhà ông PHạm Văn L1 ở Thôn D, xã Q bắt trộm 04 con gà (bào gồm 02 con gà trống và 02 con gà mái) bỏ vào bao tải rồi đi ra đường lấy xe máy đi theo hướng UBND xã Q để về nhà, khi đi ra đến đường nhựa thuộc Thôn D, xã Q thì bị lực lượng công an xã Q bắt quả tang và thu giữ tang vật giao cho cơ quan điều tra công an huyện Đ xử lý. Tại cơ quan điều tra công an huyện Đ, Bàn Văn H đã khai nhận toàn bộ nội dung vụ việc như đã nêu trên.

Ngoài ra H còn khai nhận vào khoảng tháng 7/2020 H có đột nhập vào nhà chị Mai Thị Đ1, trú tại Thôn D, xã Q trộm cắp 02 con gà, trọng lượng khoảng 4,3kg, H đem bán cho chị T4 ở Thôn G, xã K được 200.000đồng để tiêu xài cá nhân. Tuy nhiên, qua làm việc với chị Đ1 khai nhận chị bị mất 06 con gà (05 con gà mái và 01 con gà trống) có trọng lượng 21,7 kg, còn H khai nhận quá trình bắt trộm gà của chị Đ1 thì một số con chạy thoát khỏi chuồng nên H chỉ bắt được 02 con.

Người bị hại là:

Anh Đỗ Văn T1, sinh năm 1970, trú tại Tổ dân phố B, TT. Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng bị chiếm đoạt 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HADOSIVA, biển số 49S6-1963

Anh Lương H, sinh năm: 1970, trú tại Thôn O, Q, Đ, Lâm Đồng bị chiếm đoạt 01 chiếc xe máy nhãn hiệu SIONGSHI

Anh Phạm Văn L1, sinh năm: 1966, trú tại Thôn 4, xã Quảng Trị, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng bị chiếm đoạt 04 con gà, (bao gồm 02 con gà trống và 02 con gà mái) có tổng trọng lượng 13kg

Chị Mai Thị Đ1, sinh năm 1963, trú tại Thôn D, Q, Đ, Lâm Đồng bị mất 06 con gà (05 con gà mái và 01 con gà trống) có tổng trọng lượng 21,7kg, trong đó 02 con gà trọng lượng 4,3kg Bàn Văn H thừa nhận trực tiếp chiếm đoạt.

Theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ xác định giá trị của 04 con gà có trọng lượng 13kg có giá là 780.000đồng; 06 con gà có trọng lượng 21,7kg có giá là 1.302.000đồng, trong đó 02 con gà trong jượng 4,3kg có trị giá là 258.000đồng; 01 chiếc xe máy, nhãn hiệu SIONGSHI (không có BKS) có giá trị là 600.000đồng; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HADOSHIVA, biển kiểm soát 49S9-1963 có giá trị là 1.800.000đồng. Tổng giá trị tài sản thiệt hại do hành vi trộm cắp của H là 4.482.000đồng, trong đó tài sản H trực tiếp chiếm đoạt là 3.438.000đồng.

Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKSĐT ngày 30/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo Bàn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo H từ 12 (Mười hai) tháng đến 15 (Mười lăm) tháng tù.

* Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là chị Đỗ Văn T1, Lương H, Phạm Văn L1 đã nhận lại tài sản, và có đơn xin vắng mặt tại phiên toà, không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét. Bà Mai Thị Đ1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.302.000đồng. Bị cáo đã đồng ý bồi thường. Xét đây là sự thoả thuận tự nguyện của các đương sự không trái quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

* Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã trả lại 04 con gà (bào gồm 02 con gà trống và 02 con gà mái), trọng lượng 13kg; 01 chiếc bao tải màu trắng, kích thước 90cm x 50cm, trên bao có dòng chữ TECHBANK THỨC ĂN HỖN HỢP DẠNG VIÊN” 01 chiếc xe máy, nhãn hiệu SIONGSHI, loại xe nữ, màu nâu, số máy FMG* 00423524, số khung XS100 * 800000645, không biển kiểm soát, xe không có bửng, một gương chiếu hậu bên trái, mất mặt nạ trước; 01 chiếc biển số xe mô tô 49S7-5675, gắn với phần nhựa chắn sau xe máy bị gãy rời; 01 chiếc xa máy HADOSIVA, loại xe nữ, màu nâu, số khung CT100DYC-808978, số máy CT100E-180853, biển kiểm soát 49S9-1963, xe không có bửng, không gương chiếu hậu. Các vật chứng này sau khi thu giữ Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Các vật chứng không thu giữ được: Theo lời khai của bà Mai Thị Đ1 bị mất 06 con gà (05 con gà mái, 01 con gà trống). Tuy nhiên, Bàn Văn H chỉ thừa nhận lấy 02 con gà của chị Đ1 sau đó đem bán cho chị Nguyễn Thị T4 ở Thôn G, K. Do chị T4 làm nghề mua bán gà và thực hiện việc mua bán với nhiều người nên không xác định được có mua gà do H trộm cắp hay không. Vì vậy cơ quan điều tra không thu giữ được.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của bản cáo trạng truy tố và nhất trí với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Về hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2. Chứng cứ xác định tội: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Bàn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận: H đã chiếm đoạt 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HADOSIVA, biển số 49S6-1963 của anh Đỗ Văn T1, sinh năm 1970, trú tại Tổ dân phố B, TT. Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu SIONGSHI của anh Lương H, sinh năm: 1970, trú tại Thôn C, Quảng Trị, Đ, Lâm Đồng; 04 con gà, (bao gồm 02 con gà trống và 02 con gà mái) có tổng trọng lượng 13kg của anh Phạm Văn L1, sinh năm: 1966, trú tại Thôn D, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; 02 con gà trọng lượng 4,3kg Bàn Văn H của chị Mai Thị Đ1, sinh năm 1963, trú tại Thôn D, Q, Đ, Lâm Đồng, ngoài ra H cũng thừa nhận trong quá trình bắt gà tại nhà chị Mai thì một số con chạy ra khỏi chuồng H không bắt được. Qua lời khai nhận của bị cáo, bị hại và người làm chứng đều phù hợp với những tài liệu, chứng cứ đã được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Bàn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

3. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi trộm cắp tài sản mà bị cáo H đã thực hiện là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi ấy đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Không những vậy, hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương, cho thấy bị cáo là người coi thường pháp luật.

4. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là chị Đỗ Văn T1, Lương H, Phạm Văn L1 đã nhận lại tài sản, và có đơn xin vắng mặt tại phiên toà, không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét. Bà Mai Thị Đ1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.302.000đồng. Bị cáo đã đồng ý bồi thường. Xét đây là sự thoả thuận tự nguyện của các đương sự không trái quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

5. Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã trả lại 04 con gà (bào gồm 02 con gà trống và 02 con gà mái), trọng lượng 13kg; 01 chiếc bao tải màu trắng, kích thước 90cm x 50cm, trên bao có dòng chữ TECHBANK THỨC ĂN HỖN HỢP DẠNG VIÊN” 01 chiếc xe máy, nhãn hiệu SIONGSHI, loại xe nữ, màu nâu, số máy FMG* 00423524, số khung XS100 * 800000645, không biển kiểm soát, xe không có bửng, một gương chiếu hậu bên trsi, mất mặt nạ trước; 01 chiếc biển số xe mô tô 49S7-5675, gắn với phần nhựa chắn sau xe máy bị gãy rời; 01 chiếc xa máy HADOSIVA, loại xe nữ, màu nâu, số khung CT100DYC-808978, số máy CT100E-180853, biển kiểm soát 49S9-1963, xe không có bửng, không gương chiếu hậu. Các vật chừng này sau khi thu giữ Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Các vật chứng không thu giữ được: Theo lời khai của bà Mai Thị Đ1 bị mất 06 con gà (05 con gà mái, 01 con gà trống). Tuy nhiên, Bàn Văn H chỉ thửa nhận lấy 02 con gà của chị Đ1 sau đó đem bán cho chị Nguyễn Thị T4 ở Thôn G, K. Do chị T4 làm nghề mua bán gà và thực hiện việc mua bán với nhiều người nên không xác định được có mua gà do H trộm cắp hay không. Vì vậy cơ quan điều tra không thu giữ được.

6. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Bàn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bàn Văn H 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 16/10/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 357; khoản 5 Điều 275; Điều 584; 585; 586; 589 của Bộ luật dân sự buộc bị cáo Bàn Văn H phải bồi thường số tiền 1.302.000đồng cho chị Mai Thị Đ1.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Bàn Văn H phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày T2 án, bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án; Những người bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ