- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Thanh Long - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp, miễn giảm, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thành L phải chịu 200.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2021/HS-ST Ngày 09-3-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Văn Thành
Bà Phạm Thị Hằng
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Ngọc Tiến - Thẩm tra viên chính Toà án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hùng Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2021/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2021, đối với bị cáo:
Nguyễn Thành L, sinh ngày 07 tháng 3 năm 1985 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 45/10/5B P, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Dương Hồng V; có vợ là: Chu Thị Th, có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2015; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 165/2009/HS-ST ngày 16/11/2009 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội chống người thi hành công vụ (đã được xóa án tích); Quyết định số 432/QĐ-UBND ngày 26-5-2009 của Ủy ban nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh (cai nghiện ma túy bắt buộc) thời hạn 12 tháng; tiền án: Bản án số 93/2007/HS-ST ngày 30-11-2007 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản"(chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17-12-2020, đến ngày 18-12-2020 chuyển tạm giam; có mặt;
- Bị hại: Chị Lê Thị Th, sinh năm 1973; nơi cư trú: Số 35 Đ, tổ dân phố P, phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Hữu H, vắng mặt.
+ Anh Trịnh Văn L, vắng mặt.
+ Anh Đỗ Công H, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15h 30, ngày 30/6/2020, Nguyễn Thành L gặp Nguyễn Hữu H và rủ H đi chơi. Trên đường đi, L đề xuất với H về việc đi trộm cắp tài sản lấy tiền để mua ma túy về sử dụng, H đồng ý. Sau đó, H đến khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân thuê 01 chiếc xe mô tô màu xanh nhãn hiệu Wave (không rõ biển kiểm soát) của một người đàn ông tên Sơn (không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 100.000 đồng/ngày rồi H sử dụng xe vừa thuê đi đón L. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, H chở L đến hiệu thuốc số 35 đường Đ, phường Đ, quận Dương Kinh; thấy cửa hiệu mở cửa, không có người trông coi, L bảo H dừng xe đứng bên ngoài cảnh giới còn L đi vào bên trong cửa hàng mở ngăn kéo tủ của quầy thuốc lấy được 1.340.000 đồng. Ngay lúc đó, chị Thơi là chủ cửa hàng đã phát hiện tri hô mọi người xung quanh truy bắt, L liền cầm tiền bỏ chạy ra ngoài ngồi lên phía sau xe của H định tẩu thoát. Khi cả hai chạy được khoảng 10m thì L bị quần chúng bắt giữ cùng số tiền vừa chiếm đoạt còn H điều khiển xe máy chạy thoát.
Vật chứng: Số tiền 1.340.000 đồng là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của chị Th, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Th.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D đã tiến hành xác minh, truy tìm 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave mà H đã thuê của người đàn ông tên Sơn để sử dụng chở L đi trộm cắp tài sản nhưng hiện chưa tìm được người đàn ông trên nên chưa thể thu hồi được chiếc xe này, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ có căn cứ sẽ xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Th đã nhận lại đủ số tiền 1.340.000 đồng và không còn yêu cầu gì khác.
Đối với đối tượng Nguyễn Hữu H, mặc dù có hành vi cùng Nguyễn Thành L trộm cắp tài sản là 1.340.000 đồng nH trước đó nhân thân H không có tiền án tiền sự về hành vi chiếm đoạt nên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Dương Kinh đã xử phạt vi phạm hành chính H về hành vi nêu trên.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Dương Kinh, Nguyễn Thành L khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKSDK ngày 26- 01-2021, Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Thành L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung cáo trạng, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L với mức án từ 09 đến 15 tháng tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì điều kiện kinh tế khó khăn.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
- Về tội danh:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 30-6-2020, tại hiệu thuốc số 35 đường Đ, thuộc Tổ dân phố P1, phường Đ, quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng, bị cáo Nguyễn Thành L cùng Nguyễn Hữu H đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp để chiếm đoạt 1.340.000 đồng của chị Lê Thị Th. Mặc dù, tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng trước đó bị cáo đã có 01 tiền án về hành vi chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà còn vi phạm nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Nguyễn Thành L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thành L thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội nH gây thiệt hại không lớn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được áp dụng đối với bị cáo.
- Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:
Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân là khách thể được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.
Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo đã từng nhiều lần bị xử lý về các hành vi vi phạm pháp luật, bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc nH đang chấp hành thì bị khởi tố, truy tố và xét xử về tội chống người thi hành công vụ vào năm 2009 (đã được xóa án tích). Đối với tiền án về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" chưa được xóa án tích, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân để tự cải tạo và chấp hành xong bản án mà lại tiếp tục phạm tội mới về hành vi chiếm đoạt tài sản. Mặc dù tiền án trên được xác định là yếu tố cấu thành tội đối với bị cáo nH cũng cho thấy, bị cáo có thái thái độ coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải có hình phạt thật nghiêm khắc, áp dụng hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh tại phiên tòa.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, điều kiện kinh tế của bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại không yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không phải xem xét giải quyết.
- Về xử lý vật chứng:
Đã được cơ quan điều tra xử lý theo đúng quy định pháp luật nên không phải xem xét giải quyết.
- Về án phí:
Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 17-12-2020.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp, miễn giảm, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thành L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND Quận Dương Kinh; - VKSND TP Hải Phòng; - CQ Cảnh sát Điều tra CAQ Dương Kinh; - Công an Quận Dương Kinh; - Cơ quan THAHS Quận Dương Kinh; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ CATP Hải Phòng; - Chi cục THADS quận Dương Kinh; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Bị cáo; - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú; - Tòa án TP Hải Phòng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Thắng |