- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thuận C phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thuận C (tên gọi khác: Út B) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2021/HS-ST Ngày 02-3-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khanh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đào Văn Vĩnh
Ông Phạm Văn Sáu
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Nhiều là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Thuật - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2020/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:
Huỳnh Thuận C (tên gọi khác: Út B), sinh năm 1956 tại Bạc Liêu. Nơi cư trú: Ấp T, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hoá (học vấn): 00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Thuận T1 (đã chết) và bà Trần Thị H1 (đã chết); có vợ Ong Thị B và 03 người con, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1989; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/9/2020 đến ngày 10/9/2020 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo C: Chị Huỳnh Thanh H, sinh năm 1983. Địa chỉ: Ấp T, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (xin vắng mặt).
Người bào chữa cho bị cáo C: Bà Trịnh Hồng N là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
- Bị hại:
1. Bà Đoàn Thị M, sinh năm 1943. Địa chỉ: Ấp T, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (xin vắng mặt).
2. Ông Tiêu Ngọc T, sinh năm 1957; địa chỉ: Ấp T, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Huỳnh Thuận C là người trông coi Cổ Miếu Q thuộc Ấp T, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Giữa bị cáo Huỳnh Thuận C và những người trong Ban trị sự Cổ Miếu Q phát sinh mâu thuẫn liên quan đến số tiền đền bù khoảng 19.000.000 đồng cho Cổ Miếu Q khi mở rộng tuyến Quốc Lộ 1A và mâu thuẫn trong việc dời ngày cúng Miếu.
Vào khoảng 08 giờ ngày 01/9/2020, bà Trần Thị T2 và bà Đoàn Thị M, sinh năm 1943 (là vợ của ông Trần Bá T1 - Trưởng Ban trị sự Cổ Miếu Q) đến Cổ Miếu Q để dọn dẹp vệ sinh thì gặp bị cáo C. Bà T2 kêu bị cáo C mở cửa trước Miếu cho bà T2 vô trong dọn dẹp. Sau khi dọn dẹp xong, bị cáo C khóa cửa lại thì thấy ông Tiêu Ngọc T vừa đạp xe đến Miếu. Lúc đó, bị cáo C lấy một con dao để trong người đi đến chém về phía ông T, ông T đưa tay trái lên đỡ thì bị trúng vào mặt sau cẳng tay trái (gần cổ tay trái) gây thương tích. Bị bị cáo C chém, ông T bỏ chạy ra sau Miếu, bị cáo C cầm dao đuổi theo nhưng không kịp. Sau đó, bị cáo C mang dao quay lại Miếu thì thấy bà M đang ngồi ở phần sân trước Miếu để nhổ cỏ. Bị cáo C đi từ phía sau, dùng dao đâm vào lưng bà M một dao gây thương tích, bị cáo C tiếp tục đâm thêm ba dao nữa vào lưng bà M. Lúc này bà M quỳ lạy van xin nên Huỳnh Thuận C dừng lại và bỏ đi thì bị Công an thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ hung khí là con dao đã gây thương tích cho ông Tiêu Ngọc T và bà Đoàn Thị M. Sau khi xảy ra sự việc, ông Tiêu Ngọc T và bà Đoàn Thị M được đưa đến Bệnh viện Đa khoa Thanh Vũ MEDIC Bạc Liêu điều trị và yêu cầu xử lý hình sự đối với Huỳnh Thuận C.
* Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 160/TgT ngày 04/9/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bạc Liêu kết luận thương tích của ông Tiêu Ngọc T như sau:
- Một vết thương và rạch mở rộng chưa cắt chỉ ở 1/3 dưới sau cẳng tay trái (gần cổ tay trái), tỷ lệ: 02% (Hai phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích là do vật sắc tác động từ trái qua phải.
- Một vết mổ chưa cắt chỉ ở 1/3 trước dưới cẳng tay trái, tỷ lệ: 02% (Hai phần trăm).
- Đứt gân duỗi ngón I và ngón V bàn tay trái đã khâu nối phục hồi: Theo Thông tư 22 không quy định tỷ lệ. Cơ chế hình thành thương tích là do vật sắc tác động từ trái qua phải.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 04% (Bốn phần trăm).
* Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 167/TgT ngày 30/9/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bạc Liêu kết luận thương tích của bà Đoàn Thị M như sau:
- Một vết thương chưa cắt chỉ ở vùng ngực phải sau lưng khoảng liên sườn III, cách cột sống 3cm, tỷ lệ: 01% (Một phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích là do vật sắc tác động từ sau ra trước.
- Gãy cung sau xương sườn số III bên phải, can tốt, tỷ lệ: 02% (Hai phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích là do vật sắc tác động từ sau ra trước.
- Một vết mổ chưa cắt chỉ ở khoảng liên sườn V trên đường nách giữa bên phải, tỷ lệ: 01% (Một phần trăm).
- Tràn khí, tràn máu màng phổi phải đã dẫn lưu còn ít dịch ở đáy phổi phải, tỷ lệ: 10% (Mười phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích là do vật sắc tác động từ sau ra trước.
- Một vết sây sát để lại vết biến đổi sắc tố da ở vùng lưng phải (ngang đốt sống ngực số VI), tỷ lệ: 0,5% (Không phẩy năm). Cơ chế hình thành thương tích là do vật tầy tác động từ sau ra trước.
- Một vết sây sát để lại vết biến đổi sắc tố da ở vùng lưng bên phải (ngang đốt sống ngực XI), tỷ lệ: 0,5% (Không phẩy năm). Cơ chế hình thành thương tích là do vật tầy tác động từ sau ra trước.
- Một vết sây sát để lại vết biến đổi sắc tố da ở vùng lưng bên phải (bờ dưới xương bả vai), tỷ lệ: 0,5% (Không phẩy năm). Cơ chế hình thành thương tích là do vật tầy tác động từ sau ra trước.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 14% (Mười bốn phần trăm).
* Tại Bản kết luận giám định Pháp y tâm thần theo trưng cầu số 240/2020/KLGĐ ngày 29/9/2020 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ - Bộ Y tế kết luận Huỳnh Thuận C như sau:
- Về y học: Trước, trong, sau khi phạm tội và hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Rối loạn nhân cách thực tổn (F07.0 – ICD10).
- Về năng lực: Tại thời điểm phạm tội và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Tại Cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 30/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu truy tố bị cáo Huỳnh Thuận C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và bản cáo trạng truy tố.
- Bị hại Tiêu Ngọc T yêu cầu xét xử bị cáo theo quy định pháp luật. Về trách nhiệm dân sự, ông T xác định chỉ yêu cầu bị cáo C bồi thường tiền điều trị thương tích theo toa vé tại Bệnh viện Thanh Vũ Medic Bạc Liêu là 5.403.541 đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm q, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 01/9/2020 đến ngày 10/9/2020. Về vật chứng, đề nghị tịch thu và tiêu hủy 01 (một) cây dao có đặc điểm dài 31,5cm, cán dao bằng gỗ tròn dài 13,5cm, đường kính 03cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen, dài 18cm, có một bề sắc bén mũi dao nhọn, nơi rộng nhất 04cm. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho ông Tiêu Ngọc T số tiền 5.403.541 đồng và bà Đoàn Thị M số tiền là 18.809.092 đồng. Bị cáo được miễn án phí theo quy định pháp luật.
- Người bào chữa cho bị cáo tranh luận: Hiện tại gia đình bị cáo C gặp nhiều khó khăn như bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức và người cao tuổi; vợ bị cáo bị bệnh. Trong quá trình điều tra và xét xử, bị cáo C thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để bị cáo C có mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tòa án đã triệu tập hợp lệ những người tham gia tố tụng để tham gia phiên tòa hôm nay. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị hại Đoàn Thị M và người đại diện hợp pháp của bị cáo C là chị Huỳnh Thanh Hoa vắng mặt và đều có đơn xin vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của bà M và chị Hoa không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử.
Về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị cáo và người bào chữa cho bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường; Bản kết luận giám định; lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Do có mâu thuẫn giữa bị cáo với Ban trị sự Cổ Miếu Q về số tiền đền bù giải tỏa và việc dời ngày cúng Miếu. Nên vào khoảng 08 giờ ngày 01/9/2020, tại Cổ Miếu Q thuộc Ấp T, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo dùng dao bằng kim loại chém trúng cẳng tay trái ông Tiêu Ngọc T gây tổn thương cơ thể với tỷ lệ là 04%, sau đó bị cáo tiếp tục đâm vào lưng bà Đoàn Thị M gây tổn thương cơ thể với tỷ lệ là 14% là có xảy ra trên thực tế. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện với lỗi cố ý nên đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Cây dao mà bị cáo gây thương tích cho bà M và ông T là hung khí nguy hiểm; đồng thời bị cáo gây thương tích đối với bà M là người già yếu theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Với hành vi phạm tội và hậu quả nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1…” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì mâu thuẫn số tiền đền bù giải tỏa Cổ Miếu Q và việc Ban trị sự dời ngày cúng miếu mà bị cáo sẵn sàng dùng dao là hung khí nguy hiểm chém vào tay trái ông T và đâm bà M, không chỉ trực tiếp xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của các bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương nên cần phải xử lý nghiêm mới đảm bảo việc cải tạo, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho bị cáo và cũng để răn đe, phòng ngừa chung. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; trong quá trình điều tra và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm q, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.
Về vật chứng trong vụ án: 01 (một) cây dao có đặc điểm dài 31,5cm, cán dao bằng gỗ tròn dài 13,5cm, đường kính 03cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen, dài 18cm, có một bề sắc bén mũi dao nhọn, nơi rộng nhất 04cm. Cây dao trên là của bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Bà M yêu cầu bồi thường số tiền 26.000.000 đồng, gồm các khoản sau: Tiền xe vận chuyển trị bệnh 3.300.000 đồng; tiền người nuôi bệnh 3.000.000 đồng; tiền ăn uống, tã, sữa 5.000.000 đồng; tiền viện phí 12.700.000 đồng; tiền mua thuốc ngoài 2.000.000 đồng. Tại phiên tòa, ông T xác định chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường tiền điều trị thương tích theo toa vé tại Bệnh viện Đa khoa Thanh Vũ Medic Bạc Liêu 5.403.541 đồng. Bị cáo không đồng ý theo yêu cầu bồi thường của các bị hại mà yêu cầu bồi thường theo quy định pháp luật. Căn cứ các Điều 584 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử chấp nhận các khoản yêu cầu của các bị hại như sau:
Đối với ông Tiêu Ngọc T: Tiền điều trị thương tích theo toa vé tại Bệnh viện Đa khoa Thanh Vũ Medic Bạc Liêu 5.403.541 đồng.
Đối với bà Đoàn Thị M:
- Tiền thuốc theo toa vé là 12.514.092 đồng;
- Tiền xe đưa bà M đến cơ sở y tế và về là: Bà M chỉ có 01 toa vé chứng minh được 01 lần chuyển viện từ Bệnh viện Đa khoa Bạc Liêu đến Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ là 1.675.000 đồng, còn những lần khác không có toa vé. Tuy nhiên, thực tế theo những lần bà M đến khám cơ sở y tế thì có cơ sở chấp nhận như sau: Đi và về tại Bệnh viện Đa khoa Thanh Vũ Medic Bạc Liêu, mỗi lần là 50.000 đồng; đi đến Bệnh viện Đa khoa Đa khoa Bạc Liêu là 50.000 đồng; về từ Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ là 130.000 đồng x 2 người (có 01 người nuôi bệnh đi cùng). Tổng cộng là: 100.000 đồng + 50.000 đồng + 1.675.000 đồng + 260.000 đồng = 2.085.000 đồng.
- Tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh: Bà M phải nằm viện điều trị từ ngày 01/9/2020 đến ngày 06/9/2020 thì xuất viện và nhập viện lại từ ngày 11/9/2020 đến ngày 17/9/2020 thì xuất viện. Tổng cộng là 13 ngày. Do trong thời gian điều trị, bà M cần phải có người chăm sóc và chỉ có căn cứ chấp nhận yêu cầu mất thu nhập của 01 người nuôi bệnh. Bà M xác định tiền mất thu nhập người nuôi bệnh mỗi ngày 200.000 đồng là có căn cứ nên chấp nhận tiền mất thu nhập người nuôi bệnh là 13 ngày x 200.000 đồng = 2.600.000 đồng.
- Tiền tã cho bà M: Trước khi bà M bị bị cáo C gây thương tích, có thể sinh hoạt bình thường. Tuy nhiên, bà M là người già và theo Biên bản ghi lời khai ngày 22/12/2020 và Đơn xin xét xử vắng mặt, bà M xác định sức khỏe của bà đi lại khó khăn, vệ sinh cá nhân phải nhờ người khác nên Hội đồng xét xử chấp nhận số tiền là 650.000 đồng.
Đối với các khoản khác, bà M không có hóa đơn thực tế và không theo chỉ định của bác sĩ nên không được chấp nhận.
Tổng cộng là 12.514.092 đồng + 2.085.000 đồng + 2.600.000 đồng + 650.000 đồng = 17.849.092 đồng.
Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhập toàn bộ yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông T và chỉ có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại của bà M. Buộc bị cáo C bồi thường cho ông T số tiền là 5.403.541 đồng và bà M số tiền là 17.849.092 đồng.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về áp dụng điều luật, tình tiết giảm nhẹ, hình phạt và xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với trách nhiệm dân sự, chỉ chấp nhận một phần mà không chấp nhận tiền ăn uống cho bà M.
Án phí hình sự và dân sự sơ thẩm: Bị cáo C không phải chịu do thuộc trường hợp người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thuận C (tên gọi khác: Út B) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm q, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thuận C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 01/9/2020 đến ngày 10/9/2020.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây dao có đặc điểm dài 31,5cm, cán dao bằng gỗ tròn dài 13,5cm, đường kính 03cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen, dài 18cm, có một bề sắc bén mũi dao nhọn, nơi rộng nhất 04cm.
(Vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/01/2021).
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các điều 584, 590 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Huỳnh Thuận C bồi thường cho ông Tiêu Ngọc T số tiền là 5.403.541 (năm triệu bốn trăm lẻ ba nghìn năm trăm bốn mươi mốt) đồng và bà M số tiền là 17.849.092 (mười bảy triệu tám trăm bốn mươi chín nghìn không trăm chín mươi hai) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
4. Án phí hình sự và dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Huỳnh Thuận C được miễn nộp.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, ông T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà M, chị Hoa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu; - VKSND tỉnh Bạc Liêu; - Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Vĩnh Lợi; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Lợi; - Cơ quan THAHS Công an huyện V; - Chi cục THADS huyện V; - Bị cáo; - Đại diện hợp pháp bị cáo; - Bị hại; - Người bào chữa; - Lưu: HSVA, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Duy Khanh |