- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ksor S trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Kpă L, Ksor S phạm tội “Trộm cắp T sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 91 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN TỈNH GIA LAI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2021/HS-ST Ngày 01-4-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ksor H’Đuen.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Chương, Giáo viên
Bà Nguyễn Thị Ánh Ngọc, giáo viên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Vi Văn Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 01 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2021/TLST-HS, ngày 05 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2021/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Kpă L, Sinh ngày: 09/8/2003,tại: Gia Lai. Nơi cư trú: Thôn P, xã I, huyện P, Gia Lai; dân tộc: Jrai ; Quốc tịch: Việt Nam ; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 1/12; Nghề nghiệp: Làm nông ; cha là Siu Km, sinh năm 1975; mẹ là Kpă H’V, sinh năm 1975. Tiền án, Tiền sự: Không. Tạm giữ từ ngày 18/01/2021 đến ngày 21/01/2021 được tại ngoại. Tạm giam: Không. Bị cáo tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ksor S, Sinh năm: 1993, tại: Gia Lai. Nơi cư trú: Thôn P, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai; dân tộc: Jrai; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 1/12; Nghề nghiệp: Làm nông ; Cha là Siu J, sinh năm 1970; mẹ là Ksor H’Y sinh năm 1970. Tiền án, Tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị tạm giữ tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phú Thiện từ ngày 18/01/2021 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho hai bị cáo: Bà Bùi Thị Phượng – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người đại diện theo pháp luật của Kpă L: Bà Kpă H’V, sinh năm: 1975; Trú tại: Thôn Pl, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Đình T, sinh năm: 1984; Trú tại: Thôn T, xã Ia P, huyện P, Gia Lai. Vắng mặt.
Người phiên dịch: Bà Ksor H’Duyên; Trú Tại: Tổ dân phố 4, thị trấn Phú Thiện, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 22/8/2020, Kpă L đến nhà Ksor S để uống rượu. Đến nơi, L cùng S và Siu S (không xác định nhân thân, lai lịch) ngồi uống rượu với nhau. Quá trình uống rượu, L lên tiếng rủ S và Siu S đi tìm tài sản trộm cắp thì được cả bọn đồng ý. Sau đó, L về nhà lấy 01 con dao đi trước dẫn đường, S và Siu S đi theo sau. Khoảng 21h30’ cùng ngày, cả bọn đi bộ đến 01 căn nhà trông coi rẫy của anh Bùi Đình T, sinh năm 1984 ở Thôn T, Ia P, huyện P, Gia Lai. Thấy không có ai ở nhà, L cùng đồng bọn đi xung quanh nhà tìm cách đột nhập vào bên trong. Thấy nhà anh T có lắp 02 camera ở trên trần nhà nên Ksor S nhặt 01 khúc cây gần đó rồi cùng L cầm dao mang theo trước đó đập vỡ 02 camera. Sau đó, L và Ksor S đi đến vị trí cửa sau luồn tay vào khe hở cánh cửa để mở chốt khóa cửa. Mở được cửa, L cùng Ksor S vào trong nhà tìm kiếm tài sản còn Siu S đứng ngoài cảnh giới. L cùng Ksor S vào trong nhà lấy được 01 Cưa lốc, 01 bình phun thuốc cỏ, 01 Máy cắt cỏ, 01 bộ phát Wifi và 01 bộ đầu thu Karaoke mang ra ngoài. Lấy được tài sản, L cùng cả bọn mang toàn bộ số tài sản trộm cắp được mang cất giấu trong chuồng bò nhà Ksor S để sau này tìm cách bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Sau đó cả bọn ngủ lại nhà Ksor S, đến sáng ngày hôm sau L và Siu S đi về. Khoảng 23h00’ cùng ngày, khi quay lại nhà rẫy và phát hiện bị mất tài sản, anh Bùi Đình T làm đơn trình báo Công an.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Thiện đã tiến hành kiểm tra, xác minh và xác định được Kpă L và Ksor S là người đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhà anh Bùi Đình T. Tại Cơ quan điều tra, Kpă L và Ksor S đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản đồng thời giao nộp lại toàn bộ tài sản trộm cắp.
Cơ quan điều tra đã tiến hành yêu cầu định giá đối với số tài sản bị trộm cắp, gồm: 01 Cưa lốc hiệu STILH MS390 màu cam, 01 Bình phun thuốc cỏ hiệu SITO màu cam, 01 Máy cắt cỏ hiệu BRUSHCUTTER CG328, 01 bộ phát Wifi hiệu SPEEDPORT-LTE II210DEB5935-12, 01 bộ đầu thu Karaoke hiệu SUHRE-UGX9II.
Tại Kết luận định giá tài sản số 14 ngày 28/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Thiện, tinh Gia Lai, xác định: Tổng trị giá tài sản tại thời điểm định giá là 8.070.000 đồng (Tám triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng).
Ngày 14/9/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Thiện, Gia Lai đã Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Kpă L và Ksor S về tội “Trộm cắp T sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, trước khi đột nhập trộm cắp T sản trong vụ án, Kpă L cùng đồng bọn còn đập phá 01Camera hiệu YOOSEE màu trắng và 01 Camera hiệu CARECAM màu đen anh Bùi Đình tài lắp đặt ở trần nhà.
Tại Kết luận định giá tài sản số 18 ngày 09/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Thiện, tinh Gia Lai, xác định: Tổng trị giá 02 Camera tại thời điểm định giá là 1.280.000 đồng (Một triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng). Xét thấy, giá trị thiệt hại chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Công an huyện Phú Thiện đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với các bị cáo.
Đối với đối tượng Siu S (theo lời khai của Kpă L và Ksor S), là người tham gia thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa đủ cơ sở xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Ngày 16/11/2020, Cơ quan điều tra kết thúc điều tra chuyển hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát truy tố các bị can Kpă L và Ksor S. Tuy nhiên, trong quá trình truy tố Kpă L và Ksor S đã bỏ trốn khỏi địa phương nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện đã quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can và yêu cầu truy nã các bị can. Đến ngày 18/01/2021, Kpă L và Ksor S đến Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Thiện đầu thú.
Ngày 21/01/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện ra Quyết định phục hồi vụ án và Quyết định phục hồi vụ án đối với bị can. Nay, Kpă L và Ksor S tiếp tục bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện truy tố theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 05 tháng 02 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Kpă L và Ksor S về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Kpă L, Ksor S. Áp dụng thêm Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với cáo Kpă L.
Đề nghị xử phạt bị cáo Kpă L và Ksor S mỗi bị cáo từ 07 đến 10 tháng tù.
-Về vật chứng của vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Thiện đã ra Quyết định xử lý vật chứng theo quy định, trao trả cho anh Bùi Đình T là chủ sỡ hữu hợp pháp: 01 Cưa lốc hiệu STILH MS390, 01 Bình phun thuốc cỏ hiệu SITO, 01 Máy cắt cỏ hiệu BRUSHCUTTER CG328, 01 bộ phát Wifi hiệu SPEEDPORT-LTE II210DEB5935-12, 01 bộ đầu thu Karaoke hiệu SUHRE-UGX9II và 01 Camera hiệu YOOSEE.
Đối với 01 con dao và 01 khúc cây, là vật chứng Kpă L và Ksor S dùng đập phá 02 Camera trước khi đột nhập vào nhà anh T. Sau khi gây án, L và Ksor S đã vất bỏ trên đường về không xác định được vị trí nên Cơ quan điều tra không thu giữ được nên không đề nghị xem xét.
- Về dân sự: Quá trình điều tra, anh Bùi Đình T yêu cầu bồi thường đối với tài sản bị hư hỏng là 02 Camera với số tiền 1.600.000 đồng (Một triệu sáu trăm nghìn đồng). Bị cáo Kpă L và Ksor S đồng ý và đã liên đới bồi thường xong. Anh T đã nhận đủ tiền bồi thường và không có yêu cầu gì khác nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- Quan điểm bào chữa cho các bị cáo: Hành vi của các bị cáo phù hợp với nội dung Bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Phú Thiện truy tố. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả, các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, sau khi bỏ trốn các bị cáo đã đến đầu thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS, bị cáo Kpă L dưới 18 tuổi nên áp dụng Điều 91; khoản 101 Bộ luật Hình sự; các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị HĐXX áp dụng thêm Điều 54 BLHS xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, xử phạt các bị cáo Kpă L, Ksor S mỗi bị cáo không quá 05 tháng tù là phù hợp.
Quá trình tranh luận, đối đáp Kiểm sát viên, người bào chữa đều giữ nguyên quan điểm đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, hình phạt.
Tại phiên tòa các bị cáo thống nhất với Bản cáo trạng và luận tội của đại diện viện kiểm sát. Các bị cáo không tranh luận gì, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vậy có đủ cơ sở khẳng định:
Tối ngày 22/8/2020, Kpă L rủ Ksor S và đối tượng Siu S đi trộm cắp tài sản và được cả bọn đồng ý. Khoảng 21h30’ cùng ngày, L dẫn đồng bọn đến nhà anh Bùi Đình T ở Thôn T , xã Ia , huyện P , Gia Lai. Thấy nhà anh T đi vắng nên L và Ksor S cầm dao và gậy đập vỡ 02 Camera lắp trên trần nhà rồi đột nhập vào trong nhà lấy trộm được các tài sản gồm: 01 Cưa lốc hiệu STILH MS390 màu cam, 01 Bình phun thuốc cỏ hiệu SITO màu cam, 01 Máy cắt cỏ hiệu BRUSHCUTTER CG328, 01 bộ phát Wifi hiệu SPEEDPORT-LTE II210DEB5935-12, 01 bộ đầu thu Karaoke hiệu SUHRE-UGX9II.
Tổng trị giá tài sản trong vụ trộm cắp là 8.070.000 đồng và gây hư hỏng 02 Camera của bị hại với trị giá là 1.280.000 đồng.
Hành vi trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ đồng thời gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo Kpă L , Ksor S về tội “Trộm cắp T sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.
Trước khi đột nhập trộm cắp tài sản trong vụ án, Kpă L cùng đồng bọn còn đập phá 01Camera hiệu YOOSEE màu trắng và 01 Camera hiệu CARECAM màu đen tổng trị giá 02 Camera tại thời điểm định giá là 1.280.000 đồng. Xét thấy, giá trị thiệt hại chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Công an huyện Phú Thiện đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với các bị cáo.
Xét về vai trò của các bị cáo thì thấy: Trước khi phạm tội các bị cáo không có sự thỏa thuận, bàn bạc, phân công nhiệm vụ nên các bị cáo phạm tội không có tính chất tổ chức mà là đồng phạm giản đơn.
Đối với Kpă L, là người đã khởi xướng, rủ rê đồng bọn đi trộm cắp tài sản và cũng là người trực tiếp thực hiện tội phạm. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo đủ 17 năm 13 ngày tuổi, tuy chưa thành niên nhưng đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án.
Đối với Ksor S, là người được Kpă L rủ đi trộm cắp tài sản, Ksor S đã không can ngăn mà còn đồng ý ngay và trực tiếp tham gia thực hiện hành vi trộm cắp rất tích cực. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm đúng với vai trò của mình trong vụ án.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đó là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Kpă L dưới 18 tuổi nên cần áp dụng các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên, hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm, các bị cáo chủ động đi tìm sự sơ hỡ để trộm cắp tài sản, khi phát hiện nhà có đặt camera thì các bị cáo đã đập hỏng camera để tránh việc bị ghi hình nhằm che dấu hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra, trong quá trình truy tố, các bị cáo Kpă L, Ksor S đã bỏ trốn khỏi địa phương đã gây khó khăn cho quá trình truy tố của Viện kiểm sát nên cần xem xét khi lượng hình đối với các bị cáo.
Về hình phạt: Sau khi xem xét, đánh giá, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp. Các bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là phạm tội là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tham lam tư lợi nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc là cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để giúp cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, đồng thời qua đó răn đe và phòng ngừa loại tội phạm này tái diễn trên địa bàn.
Đối với đối tượng Siu S, theo các bị cáo khai là người tham gia thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa đủ cơ sở xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Về vật chứng của vụ án: 01 Cưa lốc hiệu STILH MS390, 01 Bình phun thuốc cỏ hiệu SITO, 01 Máy cắt cỏ hiệu BRUSHCUTTER CG328, 01 bộ phát Wifi hiệu SPEEDPORT-LTE II210DEB5935-12, 01 bộ đầu thu Karaoke hiệu SUHRE-UGX9II và 01 Camera hiệu YOOSEE. Xét thấy quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu đúng theo quy định của pháp luật nên không xem xét.
Về dân sự: Các bị cáo đã bồi thường đối với tài sản bị hư hỏng là 02 Camera với số tiền 1.600.000 đồng cho anh Bùi Đình T, anh T đã nhận đủ tiền bồi thường và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố các bị cáo Kpă L, Ksor S phạm tội “Trộm cắp T sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Kpă L, Ksor S. Căn cứ thêm Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Kpă L.
- Xử phạt bị cáo Kpă L 06 (Sáu) tháng tù, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 18 tháng 01 năm 2021 đến ngày 21 tháng 01 năm 2021; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Xử phạt bị cáo Ksor S 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2021.
2.Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự ; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Kpă L, Ksor S mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (01/4/2021) các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo Kpă L có quyền kháng cáo, yêu cầu Tòa án tỉnh Gia Lai xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Đối với người bị hại, vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án, người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND tỉnh Gia Lai; - VKSND huyện Phú Thiện; - Công an huyện Phú Thiện; - Chi cục THADS huyện Phú Thiện; - Nhà tạm giữ; - Bị cáo; - Người bị hại; - Lưu: Hồ sơ, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Ksor H’Đuen |