vanban.org

Bản án 04/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 01/02/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự tịch thu hủy bỏ 6.000 bao thuốc lá hiệu Hero; 5.700 bao thuốc lá Jet và 800 bao thuốc lá Scott. Giao trả cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Forme bên trong chứa thẻ sim 0702979886 và 01 điện thoại di động hiệu Fo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự và tình tiết qui định; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HỆN LONG HỒ
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––
Bản án số: 04/2021/HS-ST
Ngày 01/02/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN LONG HỒ-TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Trí Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ông Trần Thanh Khen

2/ông Huỳnh Anh D

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Trúc Phương-Thư ký Tòa án nhân dân hện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân hện Long Hồ tham gia phiên tòa: ông Hồ Tuấn H - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 02 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân hện Long Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/ 2021/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:

Bị cáo: Trần Văn Th, sinh năm 1975. Tại: Vĩnh Long.

Nơi cư trú: ấp An Thành Tây, xã Trung Hiếu, hện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

- Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: nam; Con ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị N; Anh, chị em ruột: có 06 người (lớn nhất là bị can, nhỏ nhất sinh năm 1992). Vợ: Lê Thị Cẩm L; Con: có 02 người (Lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2008). Tiền sự: Không. Tiền án: Không;

Nhân thân: chưa có tiền án, tiền sự

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/11/2020 đến nay có mặt tại tòa.

Người làm chứng:

1/ Võ Tiến D, sinh năm 1982 (vắng) Địa chỉ: Số 919, Tân Quới Đông, Trường An, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

2/ Dương Quốc H, sinh năm 1989 (vắng) Địa chỉ: Tân Thuận, Tân Hòa, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

3/ Phạm Thị H, sinh năm 1960 (vắng) Địa chỉ: ấp Phước Hiệp, xã Lộc Hòa, hện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

4/ Lê Thị Cẩm L, sinh năm 1979 (vắng) Địa chỉ: ấp An Thành Tây, xã Trung Hiếu, hện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

5/ Nguyễn Thị Phương T, sinh năm 1978 (vắng)

Địa chỉấp 1, xã Mỹ Hiệp, hện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

6/ Lâm Hùng D, sinh năm 1990 (vắng)

Địa chỉ: , Đinh Tiên Hoàng, phường 8, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 45 phút ngày 24/6/2020, Trần Văn Th dùng điện thoại di động hiệu Forme bên trong chứa sim số 0702979886 điện thoại cho anh Võ Tiến D thuê xe ôtô loại 07 chỗ ngồi.

Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Th đến bãi giữ xe Hoàng Long thuộc số 21H, Phan Văn Đán, phường 9, thành phố Vĩnh Long nhận xe ô tô biển kiểm soát 64A - 022.76. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 25/6/2020, tại đường liên xã thuộc ấp Phước Hiệp, xã Lộc Hòa, hện Long Hồ thì bị Đội quản lý thị trường số 4 - Cục quản lý thị trường tỉnh Vĩnh Long tiến hành dừng phương tiện là xe 64A - 022.76 kiểm tra. Lợi dụng sơ hở của Đội quản lý thị trường, Th đã cùng đối tượng nữ trên bỏ trốn khỏi hiện trường.

Đội quản lý thị trường tiến hành lập biên bản thu giữ trên xe 64A - 022.76 12.500 bao thuốc lá điếu gồm 6.000 bao thuốc lá Hero, 5.700 bao thuốc lá hiệu Jet, 800 bao thuốc lá hiệu Scott và 01 điện thoại di động hiệu Forme bên trong chứa thẻ sim 0702979886.

Do Trần Văn Th bỏ trốn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra bắt theo quyết định truy nã. Trong quá trình điều tra, Trần Văn Th không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Riêng đối tượng nữ đi cùng với Trần Văn Th chưa làm việc được khi làm việc được sẽ tiến hành điều tra, xử lý sau.

Tại bản Cáo trạng số: 04/CT-VKS, ngày 07 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân hện Long Hồ truy tố các bị cáo Trần Văn Th về tội “Vận chển hàng cấm” quy định tại điểm d khoản 3 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại công văn số 26/CSĐT.2021 ngày 29/01/2021 của Cơ quan cảnh sát Điều tra công an hện Long Hồ gửi cho Viện kiểm sát nhân dân hện Long Hồ và Công văn số 01/ CV-VKS ngày 01/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân hện Long Hồ gửi cho Tòa án có nội dung: Trong quá trình điều tra bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội. Đến ngày 27/01/2021 bị cáo Trần Văn Th đã viết bảng tự khai thừa nhận hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên đối tượng tên Hoa đã thuê bị cáo vận chển thuốc lá điếu từ đồng tháp về Trà Vinh; Bị cáo cũng không xác định được họ tên đầy đủ và địa chỉ. Người này bị cáo cũng mới tiếp xúc vào ngày 24/06/2020 tại một quán cà phê thuộc khu vực ao Bà Om tỉnh Trà Vinh. Với lời trình bày của bị cáo th về đối tượng tên Hoa này cơ quan Điều tra và Viện kiểm sát nhân dân hện Long Hồ chưa thể điều tra xử lý cùng vụ án nên đề nghị Tòa án nhân dân hện Long Hồ tiếp tục xét xử bị cáo Trần Văn Th theo cáo trạng số 04/CT-VKS, ngày 07 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân hện Long Hồ

Ý kiến của Kiểm sát viên: Bảo lưu quan điểm bản Cáo trạng đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Vận chển hàng cấm”.

Đề nghị áp dụng điểm b khoản 3 Điều 191, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.

Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu hủy bỏ 6.000 bao thuốc lá Hero, 5.700 bao thuốc lá hiệu Jet, 800 bao thuốc lá hiệu Scott và đĩa CD. Giao trả cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Forme bên trong chứa thẻ sim 0702979886 và 01 điện thoại di động hiệu Forme bên trong có sim số 0766959912 và thẻ sim số 0706731252. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị buộc bị cáo nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Ý kiến của bị cáo tại tòa: Trong quá trình điều tra bị cáo không thừa nhận việc bị cáo vận chển thuốc lá ngoại cho một người phụ nữ tên Hoa. Người này bị cáo chỉ biết tại quán cà phê ở khu vực ao Bà Om, còn địa chỉ, lai lịch thì bị cáo không biết. Theo lời chỉ dẫn của người này, bị cáo đã đến Cao Lãnh để nhận thuốc lá điếu, địa điểm là một bãi đất um tùm, bị cáo không xác định được vị trí vì vào ban đêm. Sau khi nhận thuốc bị cáo cùng người nữ này đi về Trà Vinh. Khi đến địa phận tỉnh Vĩnh Long thì bị cáo bị cơ quan chức năng chặn xe, bị cáo dừng và lùi xe định quay đầu bỏ chạy thì bị xe của cơ quan chức năng chạy đến chặn đầu. Người phụ nữ trên xe mở cửa bỏ chạy, bị cáo cũng mở cửa xe bỏ chạy. Do trời tối bị cáo chạy đi thì bị chó sủa, có một người nữ trong nhà đi ra hỏi, bị cáo trả lời là không đi ăn trộm, mà bị công an chặn bắt xe sau đó bị cáo bỏ đi. Bị cáo không biết bị truy nã, bị cáo có tìm người phụ nữ tên Hoa để họ nhận trách nhiệm nhưng không tìm được. Phương tiện bị cáo sử dụng là ô tô 7 chỗ thuê của anh D, bị cáo biết anh D là qua một người bạn tên Sấm giới thiệu. Hôm nay bị cáo thấy đã sai phạm bị cáo khai ra mong được sự khoang hồng của pháp luật.

Lời trình bày sau cùng: Bị cáo đã biết sai phạm nên thành khẩn nhận tội xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Tất cả các quyết định, hành vi tố tụng, thủ tục từ giai đoạn phát hiện tội phạm đến truy tố bị cáo. Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự.

Việc vắng mặt của người làm chứng không làm ảnh hưởng đến việc xét xử, vì họ đã có lời khai rõ ràng trong quá trình điều tra.

[2. ]Về nội dung :

Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và lời thừa nhận này đã phù hợp với lời khai của nhiều người làm chứng như: Người cho bị cáo thuê xe, người giao xe cho bị cáo, người trao đổi với bị cáo sau khi bị cáo bị phát hiện bỏ chạy....phù hợp với hàng hóa được thu giữ trên phương tiện phạm tội là thuốc lá điếu nhập ngoại và chiếc điện thoại bị cáo bỏ lại trên xe có số liên lạc 0902979886. Đủ căn cứ để Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội vận chển hàng cấm. Cáo trạng số 04/CT-VKSLH ngày 07/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân hện Long Hồ truy tố bị cáo theo qui định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật hình sự là đúng người đúng tội, không oan sai.

Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, bị cáo đã sâm phạm đến chính sách quản lý kinh tế của nhà nước. Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm vì muốn có tiền tiêu xài bị cáo đã không chấp hành pháp luật. Việc làm của bị cáo đã tiếp tay cho loại tội phạm về hoạt động kinh tế, gây bất bình đẳng cho các nhà sản xuất hàng hóa trong nước, làm lũng đoạn thị trường hàng hóa. Do đó phải xử lý bị cáo nghiêm minh theo qui định của pháp luật để lập lại trật tự quản lý kinh tế trong tình hình hiện nay.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng

Về tình tiết giảm nhẹ: Khi bị phát hiện hành vi phạm tội của bị cáo bị cáo đã bỏ trốn và đã bị truy nã, khi bắt được bị cáo và toàn bộ quá trình điều tra, truy tố bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội. Sau khi nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án, bị cáo xin đầu thú và khai nhận toàn bộ việc làm của mình. Để thể hiện tính khoang hồng của pháp luật, để tạo điều kiện cho người phạm tội tự nguyện sửa chữa lỗi lầm. Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và tình tiết qui định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là bị cáo đầu thú.

Đối với đối tượng tên Hoa đã thuê bị cáo vận chển hàng cấm, theo lời trình bày của bị cáo tại cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và tại phiên tòa bị cáo không xác định lai lịch người này, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cũng có văn bản gửi tòa án sẽ tiếp tục Điều tra xử lý sau, Hội đồng xét xử chấp nhận và không thực hiện việc kiến nghị xử lý.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu hủy bỏ toàn bộ 12.850 bao thuốc lá. Các điện thoại thu giữ của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nên được giao trả lại. Chiếc đĩa CD do cơ quan quản lý thị trường cung cấp là tài liệu có liên quan đến hoạt động chên ngành nên giao trả lại cho cơ quan quản lý thị trường tỉnh Vĩnh Long. Chiếc ôtô biển số 64A-02276 của anh D, anh D không có lỗi, cơ quan Điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận và không xét lại.

Quan điểm của Kiểm sát viên tại tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về án phí: Buộc bị cáo nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm

Vì các lẻ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 191, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn Th 05(năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/11/2020.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự tịch thu hủy bỏ 6.000 bao thuốc lá hiệu Hero; 5.700 bao thuốc lá Jet và 800 bao thuốc lá Scott. Giao trả cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Forme bên trong chứa thẻ sim 0702979886 và 01 điện thoại di động hiệu Forme bên trong có sim số 0766959912 và thẻ sim số 0706731252.Giao trả cho đội quản lý thị trường số 4 cục quản lý thị trường tỉnh Vĩnh Long 01 đĩa CD, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/01/2021 giữa cơ quan cảnh sát Điều tra và Chi cục thi hành án dân sự hện Long Hồ.

3. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc bị cáo Trần Văn Th nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ