vanban.org

Bản án 04/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 12/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lô Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo: Lô Văn Nh 15 (mười lăm) tháng tù, tính từ ngày bị bắt (21/11/2020). Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "lô van nhận - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lô Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC DƯƠNG
TỈNH LÂM ĐỒNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2021/HS-ST
Ngày 12 - 3- 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy V

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thụy Thu T

Ông Cil D

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị H – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạc D, tỉnh Lâm Đ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc D, tỉnh Lâm Đ tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh G - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 3 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc D, tỉnh Lâm Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2021/TLST-HS ngày 27 tháng 1 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 2 năm 2021 đối với bị cáo:

Lô Văn Nh (tên gọi khác: Không), sinh ngày: 27/10/1999, tại Nghệ A; Nơi đăng ký HKTT: Bản Pả Kh, xã Yên T, huyện Tương D, tỉnh Nghệ A; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lô Văn C, sinh năm: 1979 và bà Vi Thị B, sinh năm 1984 (đã chết), hiện đang cư trú tại Bản Pả K, xã Yên T, huyện T D, tỉnh Nghệ A; Gia đình bị cáo có hai anh em, bị cáo là con đầu. Bị cáo sinh sống như vợ chồng với chị La Thị Ng, sinh năm 2001 và có 01 con chung sinh năm 2019 đang sinh sống tại bản Khe B, xã Châu Kh, huyện Con C, tỉnh Nghệ A; tiền án,tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ vào ngày 21/11/2021, tạm giam vào ngày 24/11/2020 tại nhà tạm giữ Công an huyện Lạc D, tỉnh Lâm Đ. Có mặt

- Người bào chữa: bà Hà Thị Đ, sinh năm: 1976 là Trợ giúp viên pháp lý; Địa chỉ: Trung tâm trợ giúp viên pháp lý nhà nước tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

- Bị hại: ông Nguyễn Đình Kh; sinh năm: 1964. Địa chỉ: Tổ dân phố Đan K, thị trấn Lạc D, huyện Lạc D, tỉnh Lâm Đ. Có mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Vi Văn D; Sinh năm: 1998. Địa chỉ: Bản Pả K, xã Yên T, huyện Tương D, tỉnh Nghệ A Có mặt.

- Cơ quan điều tra công an huyện Lạc D, tỉnh Lâm Đ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh T – Điều tra viên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ, ngày 18/11/2020, sau khi ăn tối tại nhà ông Nguyễn Đình Kh là nơi Lô Văn Nh làm công và sinh sống tại tổ dân phố Đan K, thị trấn Lạc D, huyện Lạc D, tỉnh Lâm Đ. Lợi dụng gia đình ông Kh không có ai ở nhà, bản thân muốn có tiền để tiêu xài nên Nh đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Nh thấy phòng ngủ của vợ chồng ông Kh không khóa, chỉ có chốt cài cửa nên đã mở chốt cài cửa đi vào phòng, Nh nhấc tấm nệm giường ngủ trong phòng và thấy có tiền để trong một túi nilon, Nh lấy 3.000.000đ (ba triệu đồng), số tiền còn lại Nh để lại dưới nệm giường. Sau khi lấy được tiền, Nh mang số tiền này đi ra thành phố Đà L và gửi về cho vợ của Nh ở Nghệ A.

Tiếp đến khoảng 18 giờ ngày 20/11/2020, lợi dụng gia đình ông Kh không có ở nhà, Nh đã sử dụng 01 chiếc dao để cậy vách tường bằng tôn phía góc nhà tắm để đột nhập vào nhà ông Kh. Sau khi vào được nhà, Nh vào phòng ngủ lục tìm tài sản và thấy 01 túi nilon đựng tiền treo trên vách tường, Nh đã lấy toàn bộ số tiền 12.000.000đ có trong túi nilon rồi chui ra ngoài theo đường Nh đã vào trước đó. Nh mang số tiền vừa lấy được về phòng của Nh ở sát nhà ông Kh và lấy 9.000.000đ (chín triệu đồng) bỏ vào túi nilon màu vàng, chôn sát phòng của Nh; số tiền còn lại 3.000.000đ (ba triệu đồng) Nh mang đi tiêu xài cá nhân hết 1.250.000đ (một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng). Đến trưa ngày 21/11/2020, Nhận đến công an huyện L D tự thú, khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản hai lần của mình và giao nộp lại số tiền 1.750.000đ (một triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng).

Kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 21/11/2020 tại nhà, vườn ông Kh đã xác định góc phòng tắm có 01 vết cạy, hở tôn sát chân tường, kích thước 1,2 m x 0,5 m, vách tôn bị bẻ cong ra ngoài. Tại vị trí sát tường phía sau phòng ngủ của Nh có 01 hố nhỏ được lấp đất, bên dưới có 01 túi nilon màu vàng đựng 9.000.000đ (chín triệu đồng).

Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc D đã tạm giữ và niêm phong đối với số tiền 1.750.000đ Nhận giao nộp và 9.000.000đ thu tại hiện trường. Bị cáo khai nhận đã sử dụng 01 con dao dài khoảng 50 cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại để cạy vách tường tôn đột nhập vào nhà ông Kh vào tối ngày 20/11/2020. Sau đó Nh đã để con dao này ở sát vách tường nhà, gần đường đi. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và tổ chức tìm kiếm nhưng không phát hiện và thu giữ được con dao tại vị trị Nh đã khai.

Bản cáo trạng số 04/CT-VKSLD ngày 26/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc D, tỉnh Lâm Đ truy tố bị cáo Lô Văn Nh về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như đã khai báo ở Cơ quan điều tra như nội dung bản cáo trạng truy tố và lời trình bày tại phiên tòa hôm nay như nội dung vụ án được tóm tắt ở trên; bị cáo không thắc mắc, khiếu nại gì nội dung bản cáo trạng và không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa bị cáo khai tại cơ quan điều tra có thu giữ 02 chiếc điện thoại di động hiệu appo và hiệu Masstel tuy nhiên đã được cơ quan điều tra trả lại 02 chiếc điện thoại trên và không có ý kiến khiếu nại gì.

Người bị hại trình bày: Ông đã nhận lại toàn bộ số tiền bị trộm cắp. Tại phiên tòa hôm nay ông không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: bị cáo đã tác động tới gia đình khắc phục hậu quả trả lại số tiền là 4.250.000đ cho người bị hại. Tại phiên tòa hôm nay ông không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền trên cho ông và cũng không có yêu cầu gì thêm.

Điều tra viên trình bày: Đối với hai chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo căn cứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự thì hai chiếc điện thoại hiệu Appo và Masstel không phải là vật chứng của vụ án nên đã sơ suất không lập biên bản khi giao hơ sơ vụ án tuy nhiên cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo và bị cáo cũng không có khiếu nại, ý kiến gì đối với hai chiếc điện thoại trên.

Tại phiên tòa hôm nay Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc D, tỉnh Lâm Đ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lô Văn Nh về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng số 04/CT- VKSLD ngày 26/01/2021 và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

Về tang vật: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L D đã trả lại số tiền 1.750.000đ bị cáo giao nộp và 9.000.000đ thu tại hiện trường cho chủ sở hữu ông Nguyễn Đình Kh là đúng quy định pháp luật. Bị cáo khai nhận đã sử dụng 01 con dao dài khoảng 50 cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại để cạy vách tường tôn đột nhập vào nhà ông Khuê vào tối ngày 20/11/2020. Sau đó Nh đã để con dao này ở sát vách tường nhà, gần đường đi. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và tổ chức tìm kiếm nhưng không phát hiện và thu giữ được con dao tại vị trị Nh đã khai và hai chiếc điện thoại tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã làm rõ nên đề nghị không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự; án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí quan điểm truy tố và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52; Điều 54; khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự qua đó giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đồng thời cho bị cáo hình phạt tù bằng thời gian bị cáo bị tạm giam; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo trình bày đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tính hợp pháp của chứng cứ, tài liệu và các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều Tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và các đương sự tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Các chứng cứ, tài liệu được thu thập và cung cấp theo đúng quy định của pháp luật.

. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lô Văn Nh khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trước đây tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở nhận định: khoảng 19 giờ ngày 18/11/2020, bị cáo Lô Văn Nh do cần tiền tiêu xài cá nhân, lợi dụng sự sở hở của bị hại đã lẻn vào phòng ngủ lén lút trộm cắp số tiền 3.000.000đ. Tiếp đến vào lúc 18 giờ ngày 20/11/2020 không những không thấy được hanh vi sai trái của mình, Lô Văn Nh tiếp tục lợi dụng gia đình bị hại không có ở nhà, bị cáo đã sử dụng 01 chiếc dao để cậy vách tường bằng tôn phía góc nhà tắm để đột nhập vào nhà bị hại. Sau khi vào được nhà, bị cáo vào phòng ngủ lục tìm tài sản và thấy 01 túi nilon đựng tiền treo trên vách tường, bị cáo đã lấy toàn bộ số tiền 12.000.000đ có trong túi nilon rồi chui ra ngoài theo đường bị cáo đã vào trước đó. Bị cáo mang số tiền vừa lấy được về phòng của bị cáo ở sát nhà bị hại và lấy 9.000.000đ (chín triệu đồng) bỏ vào túi nilon màu vàng, chôn sát phòng của bị cáo; số tiền còn lại 3.000.000đ (ba triệu đồng) bị cáo mang đi tiêu xài cá nhân hết 1.250.000đ (một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng). Đến trưa ngày 21/11/2020, bị cáo đến công an huyện Lạc D tự thú, khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản hai lần của mình và giao nộp lại số tiền 1.750.000đ (một triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng). Đồng thời kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 21/11/2020 đã thu giữ tại vị trí sát tường phía sau phòng ngủ của bị cáo có 01 hố nhỏ được lấp đất, bên dưới có 01 túi nilon màu vàng đựng 9.000.000đ (chín triệu đồng).

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành của tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã liên tiếp thực hiện 02 lần hành vi trộm cắp vào ngày 18/11/2020 và ngày 20/11/2020, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo cùng với gia đình đã tự nguyện khắc phục, bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị cáo tự thú về hành vi phạm tội của mình do vậy cũng cần áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, r, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo được hưởng điểm i khoản 1, điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự Hội đồng xét xử không chấp nhận là có căn cứ vì bị cáo thực hiện hành vi phạm tội hai lần, đồng thời thực hiện hành vi trộm cắp với chính người trực tiếp tạo công ăn việc làm cho bị cáo.

. Về quyết định hình phạt:

Xét nhân thân bị cáo là một thanh niên mới lớn, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo đã thực sự ăn năn, hối cải về hành vi của mình, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự nên cũng cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có sức khỏe nhưng lười lao động, chỉ vì nhu cầu tiêu xài cá nhân đã lợi dụng lòng tin, sự sở hở của bị hại để lén lút trộm cắp tài sản của người khác. Do đó phải áp dụng hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm ổn định, thu nhập thấp nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc D đã trả lại số tiền 1.750.000đ bị cáo giao nộp và 9.000.000đ thu tại hiện trường cho chủ sở hữu ông Nguyễn Đình Kh là đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay ông Kh đã nhận lại toàn bộ số tiền bị mất là 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo khai nhận đã sử dụng 01 con dao dài khoảng 50 cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại để cạy vách tường tôn đột nhập vào nhà ông Kh vào tối ngày 20/11/2020. Sau đó Nhận đã để con dao này ở sát vách tường nhà, gần đường đi. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và tổ chức tìm kiếm nhưng không phát hiện và thu giữ được con dao tại vị trí Nh đã khai do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai cơ quan điều tra có thu giữ 02 điện thoại di động: hiệu Appo và hiệu Masstel. Qua xét hỏi tại phiên tòa Điều tra viên và bị cáo đều thừa nhận có thu giữ 02 chiếc điện thoại trên. Xét hai chiếc điện thoại không phải là vật chứng vụ án mà là tài sản hợp pháp của bị cáo. Cơ quan điều tra viên đã trả lại tài sản cho bị cáo, bị cáo không khiếu nại, ý kiến gì do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại số tiền do bị cáo và gia đình bị cáo bồi thường, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Riêng đối với số tiền 4.250.000đ mà ông D đã bồi thường cho bị hại thay cho bị cáo; nay ông D không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả nên không đề cập xem xét.

. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lô Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Căn cứ vào Điều 38; điểm b, r, s khoản 1, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo: Lô Văn Nh 15 (mười lăm) tháng tù, tính từ ngày bị bắt (21/11/2020).

- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ