vanban.org

Bản án 04/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai Tuyên án 21/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các b cáo Nguyễn Cung Đ, Hoàng Quang H và Nguyễn Việt H ph m tội “Cưỡng đo t tài sản”.

Xử ph t b cáo Nguyễn Cung Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 12/7/2020 Xử ph t b cáo Hoàng Quang H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 12/7/2020 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Cung Đ và đồng phạm - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các b cáo Nguyễn Cung Đ, Hoàng Quang H và Nguyễn Việt H ph m tội “Cưỡng đo t tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Tuyên trả
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO THẮNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 04/2021/HS-ST
Ngày 21 - 01 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ph m Th Thu H ng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Th Thu Hương

Bà Nguyễn Th Ánh Tuyết

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Th Thu Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Bùi Đỗ Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2021, t i trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2020/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2020 theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 02/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2021đối với các b cáo:

1. Nguyễn Cung Đ; Giới tính: Nam, tên gọi khác: Không, sinh ngày 15/9/1996 t i huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Chỗ ở trước khi b bắt: Tổ dân phố P, th trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Quốc t ch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Con ông: Nguyễn Công Đ, sinh năm 1968; Con bà Bùi Th H, sinh năm 1973, hiện đều trú t i Khu 12, Xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. B cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: B cáo chưa có án tích, chưa b xử lý vi ph m hành chính.

B cáo b bắt t m giữ ngày 12/7/2020, t m giam ngày 18/7/2020. Hiện b cáo đang b t m giam t i Tr i t m giam Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt.

2. Hoàng Quang H; Giới tính: Nam, tên gọi khác: H phỏm, sinh ngày 09/5/1994 t i thành phố Y, tỉnh Yên Bái.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 8, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.

Chỗ ở trước khi b bắt: Thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc t ch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Hoàng Tiến A, sinh năm 1971 (không xác đ nh được đ a chỉ nơi cư trú); Con bà: Trương Th L, sinh năm 1973, hiện trú t i tổ 8, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Vợ: Phùng Th Hồng V, sinh năm 1995, hiện trú t i tổ 8, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; B cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: B cáo chưa có án tích, chưa b xử lý vi ph m hành chính.

B cáo b bắt t m giữ ngày 12/7/2020, t m giam ngày 18/7/2020. Hiện b cáo đang b t m giam t i Tr i t m giam Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt.

3. Nguyễn Việt H; Giới tính: Nam, tên gọi khác: Không, sinh ngày 24/01/2000 t i huyện Y, tỉnh Yên Bái.

Nơi cư trú: Thôn M, xã Đ, huyện Y, tỉnh Yên Bái.

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Quốc t ch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Con ông: Nguyễn Văn N, sinh năm 1975; Con bà: Nguyễn Kim T, sinh năm 1977, hiện đều trú t i: Thôn M, xã Đ, huyện Y, tỉnh Yên Bái; B cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không

Về nhân thân: B cáo chưa có án tích, chưa b xử lý vi ph m hành chính.

B cáo b bắt t m giam ngày 20/10/2020. Hiện b cáo đang b t m giam t i Tr i t m giam Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt.

Bị hại:

1. Anh Ph m Đức H, sinh năm 1994. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Nơi ở: Khu 5, xã H, th xã P, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

2. Anh Hà Xuân H, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Khu 8, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

Người làm chứng: Anh Nguyễn Thế H, anh Nông M nh C, anh Đặng Tòn N, anh Ph m Đình H, ch Đặng Th M, ch Phùng Th Hồng V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 5/2020, Bảo A (không xác đ nh rõ tên, tuổi, đ a chỉ) làm nhân viên rót bia, bấm bài hát do Nguyễn Cung Đ, Hoàng Quang H (H phỏm) quản lý t i huyện B, tỉnh Lào Cai. Cuối tháng 6/2020, B bỏ đi không làm cho Đ nữa và đến xin làm nhân viên phục vụ quán hát cho Hà Xuân H, Ph m Đức H t i tỉnh L ng Sơn. Vì B chưa đủ tuổi, Hà Xuân H và Ph m Đức H không nhận nên B giới thiệu Đặng Th M (tức X), là nhân viên rót bia do Đ quản lý, đến làm cho Hà Xuân H và Ph m Đức H. Khoảng 16 giờ ngày 01/7/2020 khi Bảo A đang nói chuyện với M qua m ng xã hội Facebook, rủ M đi L ng Sơn làm việc thì Nông M nh C (C xăm) phát hiện nên nói cho Đ biết. Đ rất bực nên nảy sinh ý đ nh lừa Bảo A lên Lào Cai để đánh r n mặt B. Đ bảo C yêu cầu M nhắn tin đồng ý đi cùng Bảo A. Đ bảo M đến nhà nghỉ T thuộc Thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai và hẹn Bảo A đến đón M t i đây. Đ gọi điện cho Hoàng Quang H nói l i sự việc và rủ Hoàng Quang H cùng tham gia đánh Bảo A. Khi đó Hoàng Quang H đang ở cùng Nguyễn Việt H nên rủ Nguyễn Việt H tham gia cùng. Vì nghĩ Bảo A sẽ đi cùng với người quản lý quán hát mà Bảo A đang rủ M đến làm nên Đ gọi điện cho Nguyễn Thế H (H đen) và Đặng Tòn N nhờ đến giúp việc đánh nhóm của Bảo A, H đen và N đồng ý. Khoảng hơn 18 giờ cùng ngày, Đ đi cùng C, thuê xe taxi màu trắng biển kiểm soát 24A-055.92 do Ph m Đình H điều khiển, đến đón H đen và N. Khi đi N cầm theo 01 chiếc gậy rút 3 khúc b ng kim lo i, Đ vào quán bi a ở thôn T, xã S lấy 02 đo n gậy bi a của Đ gửi ở quán trước đó. Sau khi đón được H đen và N, Đ bảo anh Ph m Đình H điều khiển xe chở nhóm của Đ đến nhà nghỉ T để đợi Bảo A. Đợi đến khoảng 19 giờ cùng ngày không thấy Bảo A đến, Đ đi vào nhà nghỉ T cùng với M, còn anh Ph m Đình H lái xe đưa C, Hoàng Quang H và N về. T i nhà nghỉ T, Đ yêu cầu M hỏi Bảo A là đi với ai, Bảo A trả lời đi với 02 người nữa và sắp đến nơi hẹn. Đ báo cho H đen và N là nhóm của Bảo A sắp đến và gọi xe taxi của Ph m Đình H đến đón H phỏm và Nguyễn Việt H sang nhà nghỉ T. Nhận được thông báo của Đ, H đen điều khiển xe máy chở N sang nhà nghỉ T sau đó lên xe taxi ngồi cùng với H phỏm và Nguyễn Việt H để đợi nhóm của Bảo A. Đến khoảng 01 giờ ngày 02/7/2020, Ph m Đức H, Hà Xuân H và Bảo A đi xe ô tô biển kiểm soát 19A-254.83 đến trước cửa nhà nghỉ T. Thấy Ph m Đức H xuống xe đi đến cửa nhà nghỉ, H đen cầm gậy rút ba khúc lấy xe máy điều khiển đến v trí của Ph m Đức H. H đen xuống xe tiến đến v trí cách Ph m Đức H khoảng 2m chỉ gậy về phía Ph m Đức H yêu cầu Ph m Đức H đứng sát vào cửa kính của nhà nghỉ. N cầm 01 đo n gậy bi a ch y đến v trí xe ô tô của nhóm Bảo A đang đỗ yêu cầu Hà Thế H xuống xe đi đến đứng c nh Ph m Đức H. Lúc này Ph m Đình H điều khiển xe ô tô chở H phỏm và Nguyễn Việt H đi đến. Nguyễn Việt H cầm 01 đo n gậy bi a xuống xe, ch y đến vụt 01 phát vào vai bên trái của Ph m Đức H, gậy của Nguyễn Việt H b văng ra gốc cây c nh đó. Thấy vậy H phỏm xuống xe ô tô bảo Nguyễn Việt H không được đánh Ph m Đức H. Nguyễn Việt H nhặt gậy, tiến đến cửa trước bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 19A-254.83 dùng gậy gõ nhẹ vào cửa xe, yêu cầu Bảo A xuống xe đến ngồi gần Hà Xuân H và Ph m Đức H. Lúc này Đ và M từ trong nhà nghỉ đi ra. Đ đi đến gần Bảo A, cầm 01 chiếc dép tông đang đi tát vào mặt Bảo A 03 cái rồi nói “Thôi không đánh chúng nó ở đây nữa ầm ĩ, đưa chúng nó đi chỗ khác”. H phỏm đứng c nh Ph m Đức H và nói “Bọn này lên xe taxi”, Đ nói “Bọn này lên xe taxi còn xe của chúng mày tao đi”. Lúc này C điều khiển xe máy đến chở M đi về nhà trọ ở thôn T, xã S, huyện B trước, còn Ph m Đức H, Hà Xuân H, Bảo A đi lên xe ô tô biển kiểm soát 24A-055.92 ngồi t i hàng ghế sau, Nguyễn Việt H và N đi theo ngồi ở hai bên cửa còn H phỏm ngồi ở ghế lái phụ, H phỏm bảo Ph m Đình H điều khiển xe đi về nhà trọ ở thôn T, xã S. Đ điều khiển xe ô tô màu đen biển kiểm soát 19A-254.83 chở H đen đi sau. Khi xe ô tô do Ph m Đình H điều khiển đi đến cửa nhà trọ của nhân viên ở thôn T, xã S, H phỏm yêu cầu nhóm Bảo A xuống xe đi vào trong nhà trọ, Nguyễn Việt H và N đi theo sau. Khi vào đến gian phòng khách của nhà trọ, Nguyễn Việt H yêu cầu Ph m Đức H và Hà Xuân H, Bảo A quỳ xuống nền nhà t i phòng khách, Nguyễn Việt H nói “Chúng mày dám cướp nhân viên của anh tao à” đồng thời dùng tay trái tát vào mặt của Ph m Đức H 03 cái, sau đó tiếp tục dùng đo n gậy bi a vụt vào vai phải của Hà Xuân H 01 cái. Tiếp đó, N dùng chân phải đá vào mặt Hà Xuân H 01 cái khiến Hà Xuân H b ngửa người ra phía sau, rồi tiếp tục dùng chân phải đá 01 cái vào mặt Ph m Đức H khiến Ph m Đức H chảy máu. C từ trong phòng ngủ đi ra đứng c nh Bảo A. H phỏm từ sân đi vào trong nhà và nói với Nguyễn Việt H và N “Thôi đừng đánh bọn nó nữa”. Lúc này Đ và H đen về đến nhà trọ. Đ đi thẳng đến v trí Bảo A, tay trái Đ túm vào tóc Bảo A, tay phải cầm một chiếc dép tông đang đi đánh 03 cái vào mặt Bảo A. H phỏm cũng đi đến tát vào mặt Bảo A 2 - 3 cái rồi dùng chân phải đá vào đùi Bảo A 03 cái. C thấy vậy cũng dùng chân đá vào hai bên đùi của Bảo A. Lúc này Đ nói “Thôi không đánh chúng nó ở đây nữa, ầm ĩ” rồi Đ đi về phía bếp đứng ở cuối hành lang gần bếp, gọi H phỏm xuống. Đường nói với H phỏm “Thôi không đánh chúng nó ở đây nữa ầm ĩ, đưa chúng nó đi chỗ khác xem ý chúng nó tiền nong như thế nào”, H phỏm nói “ok, tùy b n thôi”. Sau đó H phỏm quay trở l i phòng khách yêu cầu Ph m Đức H, Hà Xuân H, Bảo A đứng dậy đi ra xe ô tô. Đi đến cửa Đ nói “Đưa bọn nó lên bờ kè P”. Sau đó Ph m Đức H, Hà Xuân H, Bảo A lên ngồi t i ghế sau của xe ô tô biển kiểm soát 24A-055.92 do Ph m Đình H điều khiển, H phỏm ngồi t i ghế lái phụ. Đ điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 19A-254.83 chở H đen, Nguyễn Việt H, N, C đi trước, xe ô tô do Ph m Đình H điều khiển đi theo phía sau. Khi ra đến đường bờ kè thuộc tổ dân phố P, th trấn P, huyện B, Đ dừng xe sát lề đường bên phải giáp với bờ sông hồng, Ph m Đình H dừng phía sau cách đuôi xe ô tô biển kiểm soát 19A-254.83 khoảng 04m. Lúc này trời tối và mưa to, H phỏm yêu cầu nhóm Bảo A xuống xe. Ph m Đức H, Hà Xuân H xuống xe tự quỳ xuống nền đường ở khoảng giữa của hai xe. H đen cầm gậy rút 3 khúc xuống xe đi qua v trí Hà Xuân H, Ph m Đức H đang quỳ xuống đứng phía sau xe ô tô của Ph m Đình H điều khiển. Đ xuống xe và nói “Thôi không ai đánh chúng nó nữa” rồi đi đến v trí Bảo A đang quỳ, rút chiếc dép tông đang đi đánh vào mặt Bảo A 03 cái và nói “Đồ ăn cháo đá bát này, tao xuống đón mày thấy bố mẹ mày khổ tao còn đưa tiền cho mày đưa bố mẹ mày, bây giờ mày đ nh quay l i cắn bọn tao à”. Tiếp đó Đ quay mặt về phía Hà Xuân H chửi và nói “D ch bệnh bao nhiêu ngày tháng nay, anh em tao không làm ăn được gì, chúng mày còn đ nh lên cướp nhân viên của tao à, bây giờ ý chúng mày thế nào tao cho chúng mày tự giải quyết”. Nghe vậy, Hà Xuân H đã tự lấy ví và rút ra số tiền khoảng 1.700.000 đồng đưa cho Đ và nói “Các anh cho em xin, em cũng giống như các anh, cũng b con Bảo A này nó lừa”. Đ cầm tiền đưa cho C và bảo C đếm. C cầm tiền đếm rồi nói với Đ “Anh ơi có hơn 01 triệu”, Đ nói “Chỗ này không đủ cho anh em tao ăn uống và trả tiền taxi". Đ nói xong C cầm số tiền trên trả l i cho Hà Xuân H. Thấy vậy Ph m Đức H nói “Anh ơi em còn 3 triệu trong tài khoản nhưng em không mang theo thẻ, các anh cho em xin số tài khoản để em chuyển tiền”. H phỏm bảo Ph m Đức H chuyển tiền vào tài khoản của Hà Xuân H rồi lấy thẻ của Hà Xuân H đi rút tiền nhưng m ng b lỗi nên Ph m Đức H không chuyển tiền vào tài khoản của Hà Xuân H được. Đ hỏi H phỏm có thẻ không thì H phỏm nói thẻ b hỏng và quay sang bảo Nguyễn Việt H đọc số tài khoản của Nguyễn Việt H cho Ph m Đức H. Nguyễn Việt H nói “Nhưng mà em không mang theo thẻ, thẻ em gửi chỗ ch V”, H phỏm bảo Nguyễn Việt H “Cứ đọc số tài khoản đi không sao đâu”. Nguyễn Việt H đã đọc số tài khoản của Nguyễn Việt H là 37110000775791 của ngân hàng BIDV chi nhánh Yên Bái cho Ph m Đức H. Ph m Đức H chuyển số tiền 3.000.000 đồng từ số tài khoản 106870106570 ngân hàng Viettinbank của Ph m Đức H sang tài khoản của Nguyễn Việt H. Sau khi chuyển tiền thành công, Ph m Đức H giơ điện tho i lên cho H phỏm xem xác nhận đã chuyển khoản thành công. Lúc này, Đ nói với Hà Xuân H “Số tiền lúc nãy đâu”. Hà Xuân H lấy ra số tiền khoảng 1.700.000 đồng lúc trước đưa cho Đ và nói “Anh ơi tiền đây”. Đ cầm số tiền này lấy ra 1.000.000 đồng gồm 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, còn l i khoảng 700.000 đồng Đ trả l i cho Hà Xuân H và nói là cầm lấy tiền để đi đường. Đ cầm số tiền 1.000.000 đồng vừa chiếm đo t của Hà Xuân H đưa cho Ph m Đình H và nói “Anh ơi em trả tiền taxi cho anh”. Sau đó Đ quay ra nói với Hà Xuân H và Ph m Đức H “Thôi may cho chúng mày nhé, lên xe đi về”. Đ điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 19A-254.83 chở H đen, H phỏm, Ph m Đức H, Hà Xuân H đi lên đường Quốc lộ 4E rồi trả xe ô tô cho Hà Xuân H và Ph m Đức H điều khiển đi về. Trên đường về, Ph m Đức H kiểm tra xe thì thấy ở hàng ghế sau có 01 đo n gậy sắt và 01 chiếc điện tho i Iphone 6 màu b c. Ph m Đức H đã cầm đo n gậy sắt vứt xuống đường. Sau đó Ph m Đức H và Hà Xuân H đến cơ quan Công an trình báo toàn bộ nội dung sự việc và giao nộp l i chiếc điện tho i Iphone 6 cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai. Đối với số tiền 3.000.000 đồng trong tài khoản ngân hàng BIDV chi nhánh Yên Bái số 37110000775791 của Nguyễn Việt H mà Đ và đồng ph m đã chiếm đo t được của b h i Ph m Đức H, H phỏm nhờ vợ là Phùng Th Hồng V đi rút vì ch V giữ thẻ của Nguyễn Việt H. Ngày 03/7/2020, ch V rút tiền trong tài khoản của Nguyễn Việt H được 2.950.000 đồng, còn l i 50.000 đồng ch V không rút được vì tài khoản không đủ số dư. Sau khi biết nguồn gốc tiền là do hành vi ph m tội mà có, ch V đã giao nộp số tiền 2.950.000 đồng và anh Ph m Đình H giao nộp số tiền 1.000.000 đồng cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lào Cai.

T i bản kết luận giám đ nh pháp y về thương tích số 125/TgT ngày 14/7/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Lào Cai đối với Hà Xuân H kết luận: Bầm tím gò má phía dưới mắt phải, vết bầm tím kéo dài từ đầu trong mi dưới mắt phải xuống gò má, kích thức 03x0,6cm. Mức tổn thương cơ thể là 01%. Chấn thương do vật tày để l i.

Bản kết luận giám đ nh pháp y về thương tích số 126/TgT ngày 14/7/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Lào Cai đối với Ph m Đức H kết luận: không có dấu vết thương tích, mức tổn thương cơ thể là 0%.

T i bản cáo tr ng số 45/CT-VKS ngày 26/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai truy tố các b cáo Nguyễn Cung Đ, Hoàng Quang H và Nguyễn Việt H về tội Cưỡng đo t tài sản theo quy đ nh t i khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự.

T i phiên toà đ i diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quyết đ nh truy tố và đề ngh Hội đồng xét xử tuyên bố các b cáo Nguyễn Cung Đ, Hoàng Quang H và Nguyễn Việt H ph m tội Cưỡng đo t tài sản theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự. Trong đó:

Về hình ph t chính:

Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự, đề ngh xử ph t b cáo Nguyễn Cung Đ từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự, đề ngh xử ph t b cáo Hoàng Quang H từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự, đề ngh xử ph t b cáo Nguyễn Việt H từ 01 năm đến 01năm 06 tháng tù.

Về hình ph t bổ sung: Đề ngh không áp dụng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với các b cáo.

Về trách nhiệm dân sự: các b cáo chiếm đo t được của b h i anh Hà Xuân Hòa là 1.000.000 đồng và của anh Ph m Đức H là 3.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu giữ được 1.000.000 đồng do anh Ph m Đình Hưng giao nộp khi các b cáo dùng số tiền đó để trả tiền taxi và ch Phùng Th Hồng V nộp 2.950.000 đồng rút từ tài khoản của Nguyễn Việt H. Các b h i có nguyện vọng được nhận l i số tiền cơ quan điều tra thu giữ xét thấy là có căn cứ đúng pháp luật nên cần chấp nhận. Ngoài ra các b cáo đã bồi thường cho mỗi b h i là 10.000.000 đồng gồm tiền công đi l i, tiền tổn thất tinh thần, các b h i đã nhận đủ tiền bồi thường và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Về xử lý vật chứng: Đề ngh áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên trả cho anh Hà Xuân H 1.000.000 đồng (một triệu đồng chẵn); Trả cho anh Ph m Đức H 2.950.000 đồng (hai triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng chẵn).

Tuyên t ch thu 01 đôi dép tông màu nâu, quai dép màu đen, trên quai dép có chữ Love màu đỏ, kích thước 28,5cm x 11 cm; 02 đo n gậy đánh bi a b ng gỗ dài 76,5 cm, đầu to có phi 3,4 cm được b t b ng cao su, đầu nhỏ có phi 2,2cm có ren sắt để nối để tiêu hủy.

Trả cho b cáo Nguyễn Việt H 01 thẻ rút tiền ngân hàng BIDV số thẻ 9704180120335443 mang tên Nguyễn Việt H.

Ngoài ra đề ngh Hội đồng xét xử tuyên nghĩa vụ ch u án phí Hình sự sơ thẩm, quyền kháng cáo cho các b cáo theo quy đ nh của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:

. Về hành vi ph m tội của các b cáo:

T i phiên tòa, các b cáo Nguyễn Cung Đ, Hoàng Quang H và Nguyễn Việt H đã khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội của mình như nội dung bản cáo tr ng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của các b cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai t i cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã có trong hồ sơ. Như vậy có đủ cơ sở để khẳng đ nh bản cáo tr ng số 45/CT-VKS ngày 26/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai truy tố các b cáo Nguyễn Cung Đ, Hoàng Quang H và Nguyễn Việt H về tội “Cưỡng đo t tài sản” theo quy đ nh t i khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Các b cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và hiểu biết pháp luật. Bản thân các b cáo đều hiểu rất rõ Nhà nước ta nghiêm cấm mọi hành vi cưỡng đo t tài sản của người khác. Mọi hành vi vi ph m đều phải được xử lý thật nghiêm minh trước pháp luật. Hiểu rất rõ điều đó song do không ch u tu dưỡng rèn luyện bản thân, nên các b cáo đã bất chấp các quy đ nh của pháp luật lao vào con đường ph m tội. Hành vi ph m tội của các b cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự tr an xã hội ở đ a phương, gây ảnh hưởng xấu trong dư luận quần chúng.

Trong vụ án này các b cáo ph m tội mang tính đồng ph m giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ. Vì vậy Hội đồng xét xử cũng cần xem xét đánh giá vai trò của từng b cáo để có một mức án phù hợp với hành vi ph m tội của từng b cáo.

B cáo Nguyễn Cung Đ là người khởi xướng và là người trực tiếp tham gia thực hiện hành vi cưỡng đo t tài sản của các b h i, do đó Nguyễn Cung Đ là đối tượng giữ vai trò chính trong vụ án.

Đối với Hoàng Quang H là người tiếp nhận mục đích và thực hiện hành vi ph m tội một cách rất tích cực nên Hoàng Quang H phải ch u trách nhiệm với vai trò là người thực hành trong vụ án.

Đối với Nguyễn Việt H là người cung cấp số tài khoản cho Ph m Văn Hiệp chuyển số tiền 3.000.000 đồng vào tài khoản của Hoàng, giúp cho Nguyễn Cung Đ chiếm đo t tài sản của b h i nên Nguyễn Việt H phải ch u trách nhiệm với vai trò là người giúp sức trong vụ án.

Hành vi ph m tội của các b cáo Nguyễn Cung Đ, Hoàng Quang H và Nguyễn Việt H là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự tr an t i đ a phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có một mức án nghiêm khắc đối với các b cáo để cải t o giáo dục các b cáo và phòng ngừa chung.

. Về nhân thân của các b cáo:

Các b cáo Nguyễn Cung Đ, Hoàng Quang H và Nguyễn Việt H đều là đối tượng có nhân thân tốt.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các b cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi ph m tội các b cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt h i, t i cơ quan điều tra và t i phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các b h i xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các b cáo. Sau khi ph m tội b cáo Hoàng Quang H đã ra đầu thú và b cáo có ông nội được tặng thưởng huân chương kháng chiến h ng nhì, bà nội được tặng thưởng huy chương kháng chiến h ng nhì vì đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Do đó cũng cần áp dụng cho các b cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đ nh t i điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về các vấn đề liên quan trong vụ án:

Đối với Nông M nh C, Nguyễn Thế H và Đặng Tòn N là người được Nguyễn Cung Đ rủ tham gia giúp Đ giải quyết việc Bảo A rủ nhân viên của Đường đi nơi khác làm việc. Khi Đ nảy sinh ý đ nh chiếm đo t tài sản của các b h i Đ chỉ nói với Hoàng Quang H không nói gì với C, H đen và N. Mặt khác, trong quá trình các b cáo chiếm đo t số tiền 4.000.000 đồng của các b h i thì C, H đen và N không tham gia giúp sức cũng không được hưởng lợi gì từ tài sản chiếm đo t được của các b h i. Do đó, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề cập xử lý Hội đồng xét xét xử xét thấy là có căn cứ đúng pháp luật.

Đối với Ph m Đình H là người điều khiển xe taxi biển kiểm soát 24A-055.92 được Đ thuê chở nhóm của Đ. Khi chở, anh Ph m Đình H không biết mục đích việc làm của Đ. Khi các b cáo chiếm đo t tài sản của các b h i, anh Ph m Đình H ngồi trên xe ô tô và do trời mưa to nên anh Ph m Đình H không nghe rõ và không biết gì về nội dung vụ việc. Mặt khác, khi Đ đưa số tiền 1.000.000 đồng cho anh Ph m Đình H nói là trả tiền taxi, thì anh Ph m Đình H không biết nguồn gốc số tiền này là do chiếm đo t của b h i mà có nên Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề cập xử lý trách nhiệm đối với anh Ph m Đình H, xét thấy là phù hợp.

Đối với Đặng Tòn N và Nguyễn Việt H là các đối tượng đã có hành vi dùng vũ lực tấn công gây thương tích cho anh Hà Xuân H và Ph m Đức H. Xét thấy, hành vi của N và Nguyễn Việt H không đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích, nên Công an huyện Bảo Thắng đã ra Quyết đ nh xử ph t vi ph m hành chính số 04, 05 cùng ngày 17/11/2020, b ng hình thức ph t tiền đối với Đặng Tòn N là 2.500.000 đồng; đối với Nguyễn Việt H là 2.000.000 đồng.

Đối với Nguyễn Cung Đ, Hoàng Quang H và Nông M nh C có hành vi đánh Bảo A nhưng chỉ đánh vì bực tức việc Bảo A rủ nhân viên của Đ đi nơi khác làm việc, không nh m chiếm đo t tài sản của Bảo A. Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để điều tra, xác minh nhưng đến nay không xác đ nh được rõ tên, tuổi, đ a chỉ của Bảo A nên chưa làm việc được với Bảo A để xác đ nh mức tổn thương cơ thể do hành vi gây thương tích của Nguyễn Cung Đ, Hoàng Quang H và Nông M nh C gây ra. Do đó, đối với hành vi trên Cơ quan điều tra tách ra, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau. Xét thấy là phù hợp.

Đối với ch Phùng Th Hồng V đã giúp Hoàng Quang H rút số tiền 2.950.000 đồng từ tài khoản của b cáo Nguyễn Việt H. Tuy nhiên, khi rút tiền ch V không biết nguồn gốc tài sản là do ph m tội mà có nên Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề cập xử lý đối với ch V là phù hợp.

. Về hình ph t bổ sung: Xét thấy không cần áp dụng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với các b cáo.

. Về vấn đề dân sự: B h i là anh Hà Xuân H và anh Ph m Đức H vắng mặt t i phiên tòa, song t i cơ quan điều tra anh Hà Xuân H trình bày đã b các b cáo chiếm đo t số tiền 1.000.000 đồng và anh Ph m Đức H trình bày b các b cáo chiếm đo t 3.000.000 đồng, quá trình điều tra cơ quan điều tra đã thu giữ được 1.000.000 đồng do anh Ph m Đình H giao nộp và 2.950.000 đồng do ch V giao nộp, nay các anh có yêu cầu được nhận l i số tiền này, đối với số tiền còn thiếu là 50.000 đồng anh Ph m Đức H cho các b cáo không yêu cầu các b cáo phải hoàn trả. Ngoài ra anh Hà Xuân H và anh Ph m Đức H còn trình bày đã được gia đình các b cáo bồi thường cho mỗi người 10.000.000 đồng tiền công đi l i, tiền tổn thất tinh thần, các anh đã nhận đủ tiền bồi thường và không có yêu cầu bồi thường thêm. Xét yêu cầu của các b h i là có căn cứ, đúng pháp lu t nên cần chấp nhận.

. Về vật chứng của vụ án:

Cơ quan điều tra thu giữ 1.000.000 đồng do Ph m Đình H giao nộp và 2.950.000 đồng do ch Phùng Th Hồng V giao nộp. Đây là số tiền các b cáo ph m tội mà có, nên cần tuyên trả l i cho anh Hà Xuân H 1.000.000 đồng, trả cho anh Ph m Đức H 2.950.000 đồng.

Thu giữ 01 thẻ rút tiền ngân hàng BIDV số thẻ 9704180120335443 mang tên Nguyễn Việt H đây là thẻ ngân hàng của Nguyễn Việt H còn giá tr sử dụng nên cần tuyên trả l i cho Nguyễn Việt H.

Thu giữ 01 đôi dép tông màu nâu, quai dép màu đen, trên quai dép có chữ Love màu đỏ, kích thước 28,5cm x 11 cm; 02 đo n gậy đánh bi a b ng gỗ dài 76,5 cm, đầu to có phi 3,4 cm được b t b ng cao su, đầu nhỏ có phi 2,2cm có ren sắt để nối. Xác đ nh đây là vật chứng của vụ án không còn giá tr sử dụng nên cần tuyên t ch thu để tiêu hủy.

Thu giữ 01 xe ô tô Hyundai i10 màu trắng biển kiểm soát 24A-055.92 cùng giấy tờ kèm theo gồm 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 006556; 01 giấy chứng nhận kiểm đ nh số 9912798; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc số 19142956; 01 giấy phép lái xe số 100086000539 đều mang tên Ph m Đình H. Quá trình điều tra xác đ nh chiếc xe này thuộc sở hữu của anh Ph m Đình H. Anh Ph m Đình H là lái xe taxi được b cáo Nguyễn Cung Đ thuê chở đi theo yêu cầu, tuy nhiên anh Ph m Đình H không biết và không liên quan đến hành vi ph m tội của các b cáo trong vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Thắng đã ra Quyết đ nh xử lý vật chứng số 20 ngày 25/9/2020 trả l i chiếc xe trên cùng giấy toàn bộ giấy tờ liên quan cho anh Ph m Đình H.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ: 01 điện tho i di động OPPO F3 Plus màu đen có số thuê bao 0367.912.767 của Ph m Đình H; 01 điện tho i OPPO A3, màu đỏ có số thuê bao 0988.945.696 của Nguyễn Việt H; 01 điện tho i Samsung Duos màu đỏ có 02 số thuê bao là 0347.183.829 và 0856.676.897 của Đặng Th M; 01 điện tho i Iphone 5S màu vàng trắng có số thuê bao 0854.458.282 của Nông M nh C; 01 điện tho i OPPO F7, màu đỏ có số thuê bao 0975.673.963 của Nguyễn Cung Đ. Quá trình điều tra, xác đ nh các tài sản này không liên quan đến hành vi ph m tội của các b cáo trong vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Thắng đã ra Quyết đ nh xử lý vật chứng số 05 ngày 13/11/2020, trả l i những đồ vật trên cho chủ sở hữu.

Đối với chiếc điện tho i Iphone 6 màu b c, màn hình b vỡ, trên vỏ máy b trầy xước nhiều chỗ xác đ nh là tài sản của Bảo A, nhưng do chưa xác đ nh được lai l ch, đ a chỉ của Bảo A nên cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục bảo quản t i kho vật chứng của Công an huyện Bảo Thắng khi nào xác đ nh được chủ sở hữu sẽ xử lý sau.

. Về án phí: Các b cáo phải ch u án phí hình sự sơ thẩm theo quy đ nh t i Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

. Về đề ngh của Kiểm sát viên, các b cáo:

Xét thấy đề ngh của Kiểm sát viên về hình ph t chính đối với các b cáo là phù hợp quy đ nh của pháp luật nên cần chấp nhận.

T i phiên tòa các b cáo không đề ngh gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết đ nh tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và t i phiên tòa b cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết đ nh của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết đ nh tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp, đúng với quy đ nh của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các b cáo Nguyễn Cung Đ, Hoàng Quang H và Nguyễn Việt H ph m tội “Cưỡng đo t tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Xử ph t b cáo Nguyễn Cung Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 12/7/2020

Xử ph t b cáo Hoàng Quang H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 12/7/2020

Xử ph t b cáo Nguyễn Việt H 01 (một) năm tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 20/10/2020.

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản1; khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Tuyên trả cho anh Hà Xuân H 1.000.000 đồng (một triệu đồng chẵn)

Tuyên trả cho anh Ph m Đức H 2.950.000 đồng (hai triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng chẵn).

Tuyên t ch thu 01 đôi dép tông màu nâu, quai dép màu đen, trên quai dép có chữ Love màu đỏ, kích thước 28,5cm x 11 cm; 02 đo n gậy đánh bi a b ng gỗ dài 76,5 cm, đầu to có phi 3,4 cm được b t b ng cao su, đầu nhỏ có phi 2,2cm có ren sắt để nối để tiêu hủy.

Trả cho b cáo Nguyễn Việt H 01 thẻ rút tiền ngân hàng BIDV số thẻ 9704180120335443 mang tên Nguyễn Việt H.

3. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu phí, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc b cáo Nguyễn Cung Đ, Hoàng Quang H và Nguyễn Việt H mỗi b cáo phải ch u 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các b cáo có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các b h i vắng mặt t i phiên tòa có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết đ nh được thi hành theo quy đ nh t i Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh t i các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh t i Điều 30 Luật thi hành án.

Cỡ chữ