- Tranh chấp gì? án hình sự — "“Cố ý gây thương tích”. - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo được hưởng án treo của bị cáo Trương
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 04/2021/HS-PT Ngày: 28/01/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Minh Tự Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành Bà Ngô Thị Kim Châu - Thư ký phiên tòa: Ông Phan Vũ Lăng, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh. - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hoàng - Kiểm sát viên. Ngày 28 tháng 01năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 61/2020/HSPT, ngày 09/11/2020 đối với bị cáo Trương Hùng C. Do có kháng cáo của bị cáo Trương Hùng C đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2020/HS-ST ngày 23/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T. Bị cáo có kháng cáo: Trương Hùng C, sinh ngày 10 tháng 9 năm 1985, nơi sinh tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: ấp Rạch V, xã H, huyện C, tỉnh T; nghề nghiệp: kinh doanh bảo hiểm; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn L, sinh năm 1948 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1948 (đã chết); có vợ là Trần Thị Thúy N, sinh năm 1992 (đã ly hôn); con có 01 người sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Tốt (Bị cáo có mặt tại phiên tòa). Người bào chữa cho bị cáo Trương Hùng C: Ông Nguyễn Thanh H, luật sư Văn phòng luật sư Thanh H thuộc đoàn luật sư tỉnh Trà Vinh (có mặt). Ngoài ra, trong vụ án còn có người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, do không có kháng cáo, không có kháng nghị nên không triệu tập đến phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ, ngày 24/01/2020, bị cáo Trương Hùng C đến nhà chị Nguyễn Thị M để ăn tiệc tết Nguyên Đán. Tại đây, cũng có mặt anh Huỳnh Bá L. Bị cáo C và anh L đều có mối quan hệ tình cảm nam nữ với chị M và bị cáo C còn là người làm chung trong công ty với chị M. Tham dự buổi tiệc còn có ông Nguyễn Văn C là cha ruột của chị M cùng với hai người hàng xóm tham dự chung là anh Nguyễn Văn T và ông Huỳnh Công M. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì kết thúc buổi tiệc, anh T và ông M ra về còn bị cáo Trương Hùng C xuống võng nhà sau nằm nghĩ, ông Nguyễn Văn C rời khỏi nhà đi sửa thiết bị hát Karaoke, bà Lê Thị Thanh N là mẹ ruột của chị M đi mua nước đá. Lúc này, anh L và chị M dọn dẹp bàn tiệc và nói chuyện với nhau. Một lúc sau, anh Nguyễn Văn T là đồng nghiệp với bị cáo Hùng C gọi điện thoại rủ bị cáo C và chị M đến nhà anh T chơi nhưng do chị M không đồng ý đi cùng và còn đang ngồi nói chuyện với anh anh L nên bị cáo C ghen tuông, tức giận lấy điện thoại ra ném xuống nền nhà rồi bước xuống nhà sau lấy một cây dao sử dụng hàng ngày trong sinh hoạt gia đình của chị M đi lên cửa nhà trước chém liên tục từ trên xuống trúng vào vùng tráng, cẳng tay trái, vai trái, lưng trái, tay phải của anh L trong sự can ngăn của chị M. Lúc này, bà Lê Thị Thanh N mua nước đá về nhìn thấy sự việc liền đến hỗ trợ đẩy bị cáo C ra thì bị cáo C mới dừng lại và điều khiển xe mô tô biển số 84B1-37502 bỏ đi khỏi hiện trường. Anh L được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T, sau đó được gia đình chuyển lên Bệnh viện Chợ Rẩy điều trị, đến ngày 27/01/2020 thì xuất viện. Ngày 27/01/2020 anh Huỳnh Bá L có đơn gởi đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh T yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo Trương Hùng C đã có hành vi gây thương tích cho anh Huỳnh Bá L. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 13/20/Tgl, ngày 11/02/2020 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh T kết luận đối với thương tích của anh Huỳnh Bá L như sau: Cơ chế hình thành vết thương trên người nạn nhân Huỳnh Bá L là do ngoại lực tác động trực tiếp, vật gây ra thương tích trên là vật cứng có cạnh sắc, hướng từ trên xuống. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do thương tích gây nên là 18%. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định pháp y về thương tích trên. Về vật chứng: Trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C thu giữ: 01 (một) con dao cán gỗ dài 45,5cm, phần cán gỗ dài 16cm, phân lưỡi dao dài 29,5cm, phân mũi lưỡi dao rộng 6,8cm, mũi dao cong lệch sang trái và 01 đôi dép quay ngang đã qua sử dụng, màu đen, trên dép có chữ BITÁS. Số tang vật trên hiện nay giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện C quản lý. Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2020/HS-ST ngày 23/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh đã quyết định: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Trương Hùng C phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Trương Hùng C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và dành quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Ngày 29/9/2020, bị cáo Trương Hùng C kháng cáo bản án sơ thẩm xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo Trương Hùng C thừa nhận án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” đúng với hành vi của bị cáo, không oan, không sai. Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt được hưởng án treo. - Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Sau khi xem xét toàn diện các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua tranh tụng công khai tại phiên tòa hôm nay bị cáo cho thấy trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi của bị cáo đã dùng dao chém anh L gây thương tích đúng như nhận định của bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo không thành khẩn, bị cáo nói chỉ cầm dao quơ trúng anh L, mặc dù bị cáo có thay đổi lời khai nhưng với chứng cứ, tài liệu đã điều tra có đủ cơ sở khẳng định bị cáo đã cố ý gây thương tích cho anh L, án sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo xử bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Hùng C giữ nguyên án sơ thẩm. Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo Trương Hùng C trình bày: Giữa bị cáo với bị hại L đã có mâu thuẩn từ trước, bị hại L đã nhiều lần gây hấn, gây hại cho bị cáo nên bị cáo bức xúc, đè nén, ức chế tâm lý nên bị cáo có dùng dao gây thương tích cho bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét coi đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Bị cáo có nhiều thành tích trong công tác nhiều năm liền. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra còn có nhiều tình tiết giảm nhẹ khác nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm cho bị cáo hưởng Điều 54 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ cho bị cáo và căn cứ Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo và Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo. Lời nói sau cùng của bị cáo Trương Hùng C: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo ăn năn hối cải, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Đơn kháng cáo của bị cáo Trương Hùng C là trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm. [2] Đối với yêu cầu kháng cáo giảm nhẹ hình phạt xin hưởng án treo của bị cáo Trương Hùng C, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu
trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Trương Hùng C đã khai nhận hành vi phạm tội ngày 24/01/2020 bị cáo đã dùng dao gây thương tích cho anh Huỳnh Bá L với tỷ lệ thương tích 18% là phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cụ thể tại lời khai ngày 01/02/2020 “trong vụ việc này tôi sử dụng 01 cây dao chém gây thương tích cho anh Huỳnh Bá L. Tôi khẳng định tôi sử dụng dao này chém trúng L từ 04 cái trở lên và lúc chém tôi xác định là trúng vì tôi nhìn thấy máu anh L chảy ra, thương tích anh L do tôi gây nên” (BL 121), đồng thời bị cáo có lời khai “ tôi cầm dao nhằm vào đầu, vai L mà chém từ trên xuống 01 cái bụp (dao đưa về phía trước) tôi biết là tôi chém trúng vào đầu Lộc, tôi tiếp tục sử dụng dao nêu trên chém từ trên chém xuống nhằm vào vai, lưng của L mà chém” (BL 123 và BL 124). Lời khai nêu trên của bị cáo phù hợp với biên bản xác minh hiện trường, biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của bị hại phù hợp với kết luận giám định thương tích, bệnh án, phù hợp với lời khai của chị M và phù hợp với lời khai của bị hại và người làm chứng, Tòa án sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội “cố ý gây thương tích” là chính xác đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo lúc thừa nhận chém bị hại, lúc không thừa nhận mà cho rằng chỉ dùng dao hù dọa chị M, bị cáo chỉ quơ dao trúng bị hại L, nhưng sau đó Hội đồng xét xử và Luật sư hỏi thì bị cáo lại thừa nhận hành vi của bị cáo đã dùng dao chém anh L như bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra và bị cáo thừa nhận sẽ chịu trách nhiệm với hành vi của bị cáo gây ra. Như vậy, việc thay đổi lời khai của bị cáo tỏ ra không thật thà khai báo. Nhưng trong phát biểu tranh luận và lời nói sau cùng bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nhận định của bản án sơ thẩm. Vấn đề này coi là bị cáo có thành khẩn, bị cáo đã nhận thức được vi phạm pháp luật của bị cáo. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo 02 năm 06 tháng tù là đã xem xét một cách toàn diện đánh giá đầy đủ tính chất của vụ án và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới là quá trình công tác bị cáo có nhiều thành tích xuất xắc, đạt danh hiệu kiến tạo đội ngũ ưu tú cần nghi nhận cho bị cáo nhưng hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo là phù hợp tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo cố ý phạm tội đến cùng sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo bỏ mặt hậu quả cho anh L, người bào chữa cho bị cáo cho rằng bị cáo bị ức chế đè nén từ trước nhưng ngày 24/01/2020 giữa bị cáo với bị hại không có mâu thuẩn gì ngồi chung bàn ăn tiệc với nhau, không cử cải với nhau, coi như sự ức chế đè nén đã kết thúc và theo bị cáo khai do ghen tức vì bị hại L mà chị M không đi chơi với bị cáo không phải vì sự hận thù từ trước, nên không coi đó là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo được hưởng án treo của bị cáo Trương Hùng C, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện C. [3] Đề nghị của Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. [4] Đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo Hội đồng xét xử có xem xét cân nhắc, tuy nhiên không thỏa mãn để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hưởng án treo.
Án phí: Bị cáo Trương Hùng C phải nộp án phí hình sự phúc thẩm. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo được hưởng án treo của bị cáo Trương Hùng C. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2020/HS-ST ngày 23/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T. Tuyên bố bị cáo: Trương Hùng C phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trương Hùng C 02(hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Về án phí: Bị cáo Trương Hùng C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: -VKSND tỉnh; - Trại tạm giam; - TAND huyện C; - VKSND huyện C; - CA huyện C; - CC THADS huyện C; Đã ký - Sở Tư pháp; - Bị cáo; - Lưu. Trịnh Minh Tự | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |