vanban.org

Bản án 04/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử ly hôn giữa chị Trần Thị Khánh H và anh Vũ Ngọc A.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị Khánh H phải nộp 300.000. Chị H đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số AA/2016/0002094 ngày 05-02-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V được đối trừ (Chị H đã nộp xong). Chị Trần Thị Khánh H và anh Vũ Ngọc A có qu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị H - anh A"
  • Tòa quyết gì? Xử ly hôn giữa chị Trần Thị Khánh H và anh Vũ Ngọc A.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2021/HNGĐ-ST
Ngày 22-3-2021
V/v ly hôn giữa chị H, anh A

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Gấm.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Quốc Mậu.

2. Ông Trần Phi Thường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Ninh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Hoàng Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2021/TLST - HNGĐ ngày 05-02-2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 05-3-2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Khánh H, sinh năm 1998.

Nơi ĐKHKTT tại: Xóm T, thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định.

Nơi ở hiện nay : Xóm 9, xã M, huyện M, tỉnh Nam Định.

2. Bị đơn: Anh Vũ Ngọc A, sinh năm 1995.

Nơi ĐKHKTT tại: Xóm T, thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định.

Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa: Chị Trần Thị Khánh H và anh Vũ Ngọc A – vắng mặt có lý

do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 04-02-2021, bản tự khai ngày 08-02-2021 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị Khánh H trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Ngọc A tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 09-5-2017 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định. Sau thời gian kết hôn anh chị sống hạnh phúc được một thời gian rất ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hòa hợp, anh A mải chơi bời, không quan tâm gì đến gia đình. Khi chị khuyên nhủ thì anh A đã chửi chị và mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở lên trầm trọng. Chị và anh A chỉ chung sống với nhau được hơn 01 năm thì chị nhận thấy cuộc sống chung của vợ chồng không có hạnh phúc, anh A không yêu thương chị nên chị đã về nhà bố mẹ đẻ ở huyện M sinh sống. Chị và anh A chính thức sống ly thân và chấm dứt quan hệ tình cảm từ khoảng tháng 11-2019 đến nay. Trong thời gian vợ chồng chị sống ly thân thì anh Vũ Ngọc A đã vi phạm pháp luật và hiện nay đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Nam Định. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn gia đình đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin được ly hôn với anh A.

2. Về con chung: Trong quá trình chung sống giữa chị và anh A không có con chung. Chị H xác định đến thời điểm này chị không mang thai hoặc có con chung với anh A.

3. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung và các vấn đề khác có liên quan: Chị và anh A không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải xem xét giải quyết.

* Tại bản tự khai ngày 23-02-2021 anh Vũ Ngọc A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Lời trình bày về điều kiện kết hôn, thời gian vợ chồng đăng ký kết hôn, quá trình vợ chồng chung sống, thời gian vợ chồng sống hòa thuận, thời gian vợ chồng sống ly thân như chị H đã khai. Theo anh A khai nhận nguyên nhân mâu thuẫn gia đình là do tính tình vợ chồng không hòa hợp nên cuộc sống không hòa thuận, hạnh phúc. Anh A cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn gia đình đã trầm trọng, không thể duy trì cuộc hôn nhân này được nữa do đó chị H xin ly hôn anh cũng đồng ý.

Về con chung: Anh và chị H không có con chung.

Về tài sản, công nợ và các nội dung khác liên quan: Anh và chị H không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản xác minh, thu thập chứng cứ ngày 25-02-2021, chính quyền địa phương cung cấp như sau: Chị Trần Thị Khánh H và anh Vũ Ngọc A đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện V vào ngày 09-5-2017, hiện nay anh A vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm T, thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng.

- Về yêu cầu khởi kiện của đương sự: Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Trần Thị Khánh H và anh Vũ Ngọc A

+ Về con chung, tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và những vấn đề khác có liên quan: Đương sự khai nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

+ Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị Khánh H phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn anh Vũ Ngọc A có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm T, thông Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định (Hiện nay anh A đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định - ở thôn B, xã Q, huyện V, tỉnh Nam Định) do đó Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định đã thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Khánh H và anh Vũ Ngọc A tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định ngày 09-5-2017, như vậy hôn nhân của chị H và anh A là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Sau kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp nên dẫn đến hạnh phúc gia đình mất dần; anh chị đã sống ly thân từ tháng 11-2019 đến nay. Như vậy trong thời gian vợ chồng chung sống chị H và anh A không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, vợ chồng không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không gìn giữ, bảo vệ hạnh phúc gia đình dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, anh chị đã có thời gian sống ly thân từ tháng 11-2019 đến nay. Như vậy, việc này trái với quy định tại Điều 19, Điều 21 Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử xác định tình trạng hôn nhân gia đình giữa chị H và anh A đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H, xử cho chị H được ly hôn với anh A là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung, về tài sản, công nợ và các nội dung khác liên quan: Chị H và anh A cùng xác định vợ chồng không có, không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị Khánh H phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

1. Xử ly hôn giữa chị Trần Thị Khánh H và anh Vũ Ngọc A.

2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị Khánh H phải nộp 300.000. Chị H đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số AA/2016/0002094 ngày 05-02-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V được đối trừ (Chị H đã nộp xong).

Chị Trần Thị Khánh H và anh Vũ Ngọc A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ