vanban.org

Bản án 04/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Triệu Thị A được ly hôn anh Hoàng Về con chung: Giao cháu Hoàng Gia AB1 – Sinh ngày 25/01/2014 cho Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Triệu Thị A và anh Hoàng Trung B"
  • Tòa quyết gì? mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 13/01/2021
V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Kim Tuấn.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nông Viết Lâm.

2. Ông Nguyễn Thành Nhật.

Thƣ ký phiên tòa: Ông Trịnh Văn Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên .

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2021, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Võ

Nhai, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 163/TLST-HNGĐ ngày 24/11/2020 về việc “Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2020, giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Chị Triệu Thị A – Sinh năm 1992.

Địa chỉ: Xóm CB, xã LH, huyện V, Thái Nguyên.

Dân tộc: Nùng; Văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân. (Có mặt)

*Bị đơn: Anh Hoàng Trung B – Sinh năm 1988.

Địa chỉ: Xóm ĐC, xã LT, V, Thái Nguyên.

Dân tộc: Tày; Văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân. (Có mặt)

*Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Đào Anh C –

Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa

nguyên đơn chị Triệu Thị A trình bày:

Chị khởi kiện anh Hoàng Trung B - Địa chỉ: Xóm ĐC, xã LT, Võ Nhai,

Thái Nguyên khởi kiện lý do xin ly hôn.

Chị và anh B lấy nhau và đăng ký kết hôn với nhau năm 2013 tại UBND xã

LH, huyện V, Thái Nguyên.

Quá trình chung sống anh chị có 02 con chung là cháu Hoàng Gia AB1 –

Sinh ngày 25/01/2014 và cháu Hoàng Thị Bảo AB2 – Sinh ngày 06/10/2017.

Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung.

Về nợ chung: Chị và anh B không vay ai và cho ai vay.

Về nguyên nhân xin ly hôn: Do hai vợ chồng không hợp nhau, gia đình

nhiều mâu thuẫn, chị đã về bên ngoại ở LH sinh sống từ năm 2016 đến nay và vợ chồng đã sống ly thân hẳn đến nay được 05 tháng, xét tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin ly hôn anh B.

Nay chị yêu cầu Tòa án cho ly hôn anh B.

Về con chung: Chị có nguyện vọng được nuôi cả 02 cháu, nếu không được

nuôi cả 02 cháu chị yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Hoàng Thị Bảo AB2 – Sinh ngày 06/10/2017, nếu mỗi người nuôi một con chị không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết vì anh chị không có tài

sản chung.

* Bị đơn anh Hoàng Trung B trình bày: Anh bị chị Triệu Thị A - Địa chỉ:

Xóm CB, xã LH, V, Thái Nguyên khởi kiện lý do xin ly hôn.

Anh và chị Triệu Thị A lấy nhau và đăng ký kết hôn với nhau năm 2013 tại

UBND xã LH, huyện V, Thái Nguyên.

Quá trình chung sống anh chị có 02 con chung là cháu Hoàng Gia AB1 –

Sinh ngày 25/01/2014 và cháu Hoàng Thị Bảo AB2 – Sinh ngày 06/10/2017.

Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung.

Về nợ chung: Anh và chị A không vay ai và cho ai vay.

Về nguyên nhân chị A xin ly hôn: Theo anh do anh đi làm ở bên ngoài thời

gian dài, chị A bị tác động bởi những yếu tố khác của xã hội nên tình cảm vợ chồng dần nhạt phai.

Nay chị A yêu cầu ly hôn anh không đồng ý, muốn chị A suy nghĩ lại để vợ

chồng về đoàn tụ nuôi dạy con cái.

Nếu Tòa án buộc anh chị ly hôn, anh có nguyện vọng được nuôi cháu

Hoàng Gia AB1 – Sinh ngày 25/01/2014 và cháu Hoàng Thị Bảo AB2 – Sinh ngày 06/10/2017. Nếu được nuôi con anh không yêu cầu chị A cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết vì anh chị không có tài

sản chung.

* Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Đào Anh Tuấn

trình bày: Anh B và chị A lấy nhau và đăng ký kết hôn với nhau năm 2013 tại UBND xã LH, huyện Võ Nhai, Thái Nguyên, anh chị có 02 con chung là cháu Hoàng Gia AB1 – Sinh ngày 25/01/2014 và cháu Hoàng Thị Bảo AB2 – Sinh ngày 06/10/2017. Qua các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa xác định quan hệ vợ chồng của anh B và chị A đã trầm trọng. Do đó, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Trường hợp buộc ly hôn hai bên đều có điều kiện để nuôi con nên đề nghị xem xét giao con cho anh B trong điều kiện đảm bảo nhất.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai phát biểu ý

kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án là đúng quy định của pháp luật; đối với các đương sự đã chấp hành đúng quyền, nghĩa vụ của mình trong vụ án dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, cụ thể:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Triệu Thị A, yêu cầu Tòa án giải

quyết ly hôn đối với anh Hoàng Trung B.

-Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Triệu Thị A được ly hôn với anh Hoàng

Trung B.

-Về con chung: Giao cháu Hoàng Gia AB1 – Sinh ngày 25/01/2014 cho anh

Hoàng Trung B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục.

Giao cháu Hoàng Thị Bảo AB2 – Sinh ngày 06/10/2017 cho chị Triệu Thị A

trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục.

Tạm hoãn việc cấp dưỡng cho anh Hoàng Trung B và chị Triệu Thị A vì hai

bên không yêu cầu. Anh B và chị A có quyền đi lại thăm con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết vì đương sự không

yêu cầu.

- Về án phí: Chị A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên

tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật giải quyết: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc

Ly hôn giữa chị Triệu Thị A và anh Hoàng Trung B.

Về tư cách chủ thể: Chị Triệu Thị A khởi kiện xin ly hôn anh Hoàng

Trung B nên chị Triệu Thị A là nguyên đơn, anh Hoàng Trung B là bị đơn trong vụ án.

Về yêu cầu xin ly hôn của chị A: Cuộc hôn nhân giữa chị A và anh B là

hoàn toàn tự nguyện và hợp pháp. Bởi lẽ, anh B và chị A lấy nhau có được tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã LH, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Về nguyên nhân ly hôn: Theo chị A do hai vợ chồng không hợp nhau, gia đình nhiều mâu thuẫn, chị đã về bên ngoại ở xã LH sinh sống từ năm 2016 đến nay và vợ chồng đã sống ly thân hẳn được 05 tháng nay, xét tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin ly hôn anh B. Theo anh B do anh đi làm ở bên ngoài thời gian dài, chị A bị tác động bởi những yếu tố khác của xã hội nên tình cảm vợ chồng dần nhạt phai.

Căn cứ kết quả xác minh của TAND huyện Võ Nhai tại địa phương xác

định chị A đã chuyển khẩu về ngoại tại xóm CB, xã LH sinh sống từ năm 2016 đến nay. Xét cuộc hôn nhân giữa chị A và anh B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Triệu Thị A.

Về con chung: Anh B và chị A có 02 con chung là cháu Hoàng Gia AB1

– Sinh ngày 25/01/2014 và cháu Hoàng Thị Bảo AB2 – Sinh ngày 06/10/2017.

Cả hai bên đương sự đều có nguyện vọng trực tiếp nuôi con. Xét điều kiện

trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục của hai bên đều như nhau. Tuy nhiên cháu Hoàng Thị Bảo AB2 còn nhỏ mới hơn 3 tuổi lại là nữ nên giao cháu AB2 cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với cháu AB1 đang theo học tại xã LT, huyện V nên giao cháu AB1 cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng cho anh Hoàng

Trung B và chị Triệu Thị A vì hai bên không yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải

quyết vì đương sự không kê khai và không yêu cầu.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, chị Triệu Thị A phải chịu 300.000 đồng án phí theo quy định.

Xét ý kiến đề nghị của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn

và ý kiến về việc giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai tại phiên tòa là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28; 35; 39; 147 và 235 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về

mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Triệu Thị A được ly hôn anh Hoàng

Trung B.

2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Gia AB1 – Sinh ngày 25/01/2014 cho

anh Hoàng Trung B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục.Tạm hoãn việc cấp dưỡng cho chị Triệu Thị A vì anh B không yêu cầu.

Giao cháu Hoàng Thị Bảo AB2 – Sinh ngày 06/10/2017 cho chị Triệu Thị A

trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng cho anh Hoàng Trung B vì chị A không yêu cầu.

Anh B và chị A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được

cản trở.

Anh B cũng như các thành viên trong gia đình không được cản trở chị A

thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu AB1.

Chị A cũng như các thành viên trong gia đình không được cản trở anh B

thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu AB2.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Triệu Thị A phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ

thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị A đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai theo biên lai số 0007792 ngày 24 tháng 11 năm 2020.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai có mặt các đương sự. Báo cho biết có quyền kháng cáo

trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ