vanban.org

Bản án 04/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn D và chị Phạm Thị H được ly hôn.

* Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn D được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Nguyễn Duy N, sinh ngày 28/10/2003 và cháu Nguyễn Phúc B, sinh ngày 11/11/2009. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh D do anh D không yêu cầu. Hai bên đều có quyền trông nom, chăm sóc và giáo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? * Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn D và chị Phạm Thị H được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2021/HNGĐ-ST
Ngày 30/3/2021
“V/v ly hôn, nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Mạnh Hùng

2/ Bà Nguyễn Thị Hoa

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lương Anh Tuấn - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh.

Đại diện VKS nhân dân huyện Phù Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 30/3/2021 tại trụ sở TAND huyện Phù Ninh - tỉnh Phú Thọ, TAND huyện Phù Ninh mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án Dân sự thụ lý số 175/2020/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2020 về tranh chấp hôn nhân gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04 ngày 23/02/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1970 Địa chỉ: Khu 1, thị trấn P, huyện N, tỉnh Phú Thọ. Hôm nay, có mặt.

Bị đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1973 Địa chỉ: Khu 1, thị trấn P, huyện N, tỉnh Phú Thọ. Hôm nay, vắng mặt (không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai tiếp theo cũng như tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Văn D trình bày: anh chị Phạm Thị H được tự nguyện tự do tìm hiểu và đã đăng ký kết hôn tại UBND xã Phước Thiều, huyện Thơn Trạch, tỉnh Đồng Nai năm 2002. Trong thời gian chung sống với nhau từ năm 2002 đến 2018 vợ chồng chung sống hòa thuận. Đến năm 2019 đến nay chị Phạm thị H phát sinh chơi bời, cờ bạc bỏ bê công việc, không quan tâm đến gia đình. Mặc dù anh và các con đã khuyên nhủ nhiều lần những chị H vẫn không chịu từ bỏ con đường cở bạc dẫn đến làm sáo chộn cuộc sống trong gia đình và làm ảnh hưởng tới việc học tập của các con. Anh xét thấy không thể chung cùng chị H, không làm ảnh hưởng đến phẩm chất đạo đức của anh và các con, anh khẳng định tình cảm vợ chồng không còn, anh xin được ly hôn với chị H.

Chị Phạm Thị H trình bày: Về thờ i gian kết hôn , và quá trình chung sống chị khẳng định như anh D trình bày là đúng. Còn về mâu thuẫn vợ chồng theo chị là do hai người khó khăn về kinh tế nên đôi khi có sự mâu thuẫn. Chị không muốn ly hôn, nhưng nếu anh D vẫn nhất quyết ly hôn thì chị cũng đồng ý.

Về con chung: anh D và chị H xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Duy N, sinh ngày 28/10/2003 và cháu Nguyễn Phúc B, sinh ngày 11/11/2009. Khi ly hôn anh D xin được nuôi cả hai con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Phía chị H cũng xin được nuôi cả hai con chung nhưng nếu cháu nào đồng ý sinh sống cùng với bố thì chị cũng đồng ý

Về tài sản chung: anh D đề nghị để tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Phía chị H xác nhận không có.

Về nợ chung, công sức: anh D và chị H xác nhận không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Anh Nguyễn Văn D xin ly hôn chị Phạm Thị H và đề nghị Tòa án giải quyết về phần con chung khi ly hôn. Do đó đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh theo quy định tại khoản 1 điều 28; điểm a, khoản 1 điều 35 BLTTDS.

Về quan hệ hôn nhân: Anh D và chị Hằng kết hôn với nhau trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phước Thiều, huyện Thơn Trạch, tỉnh Đồng Nai là phù hợp với luật hôn nhân gia đình Việt Nam. Theo anh D trình bày năm 2019 do chị H phát sinh chơi bời, cờ bạc bỏ bê công việc, không quan tâm đến gia đình. Mặc dù anh và các con đã khuyên nhủ nhiều lần những chị H vẫn không chịu từ bỏ con đường cở bạc dẫn đến làm sáo chộn cuộc sống trong gia đình và làm ảnh hưởng tới việc học tập của các con. Anh xét thấy không thể chung cùng chị H, không làm ảnh hưởng đến phẩm chất đạo đức của anh và các con, anh khẳng định tình cảm vợ chồng không còn, anh xin được ly hôn với chị H. Phía chị H thì cho rằng mâu thuẫn vợ chồng là do hai người khó khăn về kinh tế. Chị không muốn ly hôn nhưng nếu anh D cương quyết ly hôn thì chị cũng đồng ý. Nhưng trong quá trình tiến hành giải quyết vụ án kể từ khi chị H đến Tòa án ghi lời khai của mình, Tòa án đã giao các văn bản tố tụng cho chị H để đến Tòa án hòa giải nhưng chị H đều không có mặt. Vì vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được. Hiện nay chị H bỏ đi đâu không có mặt tại địa phương, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh D và chị H đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được do đó nên xử cho anh D được ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 56 luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: anh D và chị H xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Duy N, sinh ngày 28/10/2003 và cháu Nguyễn Phúc B, sinh ngày 11/11/2009. Khi ly hôn anh D xin được nuôi hai con chung, chị H mong muốn được nuôi dưỡng cả hai con chung nhưng nếu cháu nào đồng ý sinh sống với bố thì chị cũng đồng ý. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án chị H có mặt nhưng đến hiện nay không có mặt tại địa phương, chị H đã bỏ đi đâu anh D cũng như địa phương không biết. Ngoài ra tại tự khai của hai cháu Nguyễn Duy N và Nguyễn Phú B thì nguyện vọng của hai cháu đều xin được ở với bố. Vì vậy cần giao con chung cho anh D nuôi dưỡng và để đảm bảo tốt nhất cho sự phát triển của con chung chưa thành niên. Nếu sau này chị H trở về, chị có đủ căn cứ chứng minh về các điều kiện nuôi con thì chị yêu cầu xin thay đổi nuôi con bằng một vụ án dân sự khác.

Về mức cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh D không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh vì vậy không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức: anh D và chị H đều xác nhận không có.

Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện VKS nhân dân huyện Phù Ninh có quan điểm: vụ án thụ lý đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay tuân thủ đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đại điện VKS đề nghị Tòa án xử cho anh Nguyễn Văn D được ly hôn với chị Phạm Thị H; Về con chung giao cháu Nguyễn Duy N, sinh ngày 28/10/2003 và cháu Nguyễn Phúc B, sinh ngày 11/11/2009 cho anh Nguyễn Văn D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh D không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung, công sức: không có.

Về án phí: Anh D phải chịu tiền án phí Hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điều 56, điều 81, điều 82 luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 điều 28, khoản 1 điều 35, khoản 4 điều 147, điều 271, khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

* Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn D và chị Phạm Thị H được ly hôn.

* Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn D được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Nguyễn Duy N, sinh ngày 28/10/2003 và cháu Nguyễn Phúc B, sinh ngày 11/11/2009. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh D do anh D không yêu cầu.

Hai bên đều có quyền trông nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được cản trở.

* Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Không có.

* Về án phí: Anh Nguyễn Văn D phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000784 ngày 23/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Anh D đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để đề nghị tòa án xét xử phúc thẩm.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ